vanban.org

Bản án 155/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 09/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

QUYẾT ĐỊNH: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Chung H. Xử phạt: bị cáo Phạm Chung H 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với phần hình phạt …

TAND tỉnh Khánh Hòa; VKSND thành phố N;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Chung H "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Chung H. Xử phạt: bị cáo Phạm Chung H 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với phần hình phạt …
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH KHÁNH HÒA
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2023/HS-ST
Ngày 09-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Nguyễn Thái Minh

ông Đoàn Tấn Hiên

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Viết Lãm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố N - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: bà Châu Thị Kim Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 149/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Chung H - sinh ngày 25/8/1999 tại Khánh Hòa; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: tổ 19T - phường P - thành phố N - Khánh Hòa; Chỗ ở: tổ 20T - phường P - thành phố N - Khánh Hòa; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm C (chết) và bà Huỳnh Thị Q (1952); Tiền sự: Quyết định số 98/QĐ-XPHC ngày 30/4/2021, Công an phường P xử phạt 750.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Tiền án: không; Nhân thân: + bản án số 134/2017/HSST ngày 12/7/2017, Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. + bản án số 192/2017/HSST ngày 25/9/2017, Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 01 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án số 134/2017/HSST ngày 12/7/2017 của Tòa án nhân dân thành phố N, buộc phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 02 năm 3 tháng tù. + bản án số 107/2018/HSPT ngày 20/9/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 02 năm 3 tháng tù của bản án số 192/2017/HSST ngày 25/9/2017 của Tòa án nhan dân thành phố N, buộc phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 03 năm 9 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/10/2020 (được xóa án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 của Bộ luật hình sự) + bản án số 145/2022/HSST ngày 13/5/2022, Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. + Bản án số 171/2022/HSST ngày 01/6/2022, Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. + Bản án số 365/2022/HSST ngày 13/12/2022, Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 01 năm tù của bản án số 145/2022/HSST ngày 13/5/2022 và hình phạt 02 năm tù của bản án số 171/2022/HSST ngày 01/6/2022, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả 03 bản án là 05 năm 6 tháng tù. + Bản án số 53/2023/HSST ngày 02/3/2023, Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 09 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội là 03 năm 3 tháng tù. Tổng hợp với phần hình phạt 05 năm 6 tháng tù của bản án số 365/2022/HSST ngày 13/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố N, buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 08 năm 9 tháng tù; Đang chấp hành án tại Trại giam A2 - Bộ Công an; Có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Nguyễn Thị K - sinh năm 2002; Vắng mặt. Nơi ĐKTT: thôn L - xã H - thị xã Đ - Phú Yên Trú tại: 45 đường S - phường P - thành phố N - Khánh Hòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Anh Đ - sn 1990 Trú tại: 55B đường C - phường T - thành phố N - Khánh Hòa; Vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác: + Người làm chứng: Nguyễn Văn D - sinh năm 1988; Vắng mặt.

Trần Thị S - sinh năm 1969; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 04/7/2021, Phạm Chung H đi bộ trên địa bàn phường P - thành phố N, tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến trước dãy phòng trọ số 110/1 đường 2/4 - phường P - thành phố N, H phát hiện một xe máy hiệu Sirius, biển kiểm soát 81G1-015.96 màu vàng đen của chị Nguyễn Thị K đang dựng trước phòng, xe không khóa cổ, quan sát thấy không có ai trông giữ, H lén lút đến dắt xe máy trên ra ngoài. Sau đó, H kiểm tra trong ngăn đựng đồ dùng của xe thì phát hiện giấy đăng ký xe, H mang xe máy cùng giấy đăng ký xe đến nhà của Nguyễn Thị Anh Đ (55B đường C - phường T - thành phố N) bán cho Đ được 1.500.000đ. Số tiền có được, H tiêu xài cá nhân. Tại bản kết luận định giá tài sản số 219/KL-HĐĐGTS ngày 17/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố N xác định: 01 xe máy Yamaha Sirius, biển kiểm soát 81G1-015.96, trị giá 3.660.000đ. Tại bản cáo trạng số 132/CT-VKSNT ngày 12/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Phạm Chung H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N - tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo H từ 01 năm tù đến 01 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo H có đơn xin xét xử vắng mặt vì hiện nay bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam A2, đây là lý do chính đáng của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu xét xử vắng mặt của bị cáo. Bị hại Nguyễn Thị K, người có quyền lợi, nghĩ vụ liên quan Nguyễn Thị Anh Đ và người làm chứng Nguyễn Văn D, Trần Thị S đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, hồ sơ thể hiện rõ lời khai của họ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định ngày 04/7/2021, tại khu vực dãy nhà trọ số 110/1 đường 2/4 - phường P - thành phố N, Phạm Chung H đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe máy Yamaha Sirius, biển kiểm soát 81G1-015.96, trị giá 3.660.000đ của chị Nguyễn Thị K. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người khỏe mạnh nhưng lười lao động mà lấy việc trộm cắp tài sản của người khác để có tiền nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo có nhân thân xấu từng nhiều lần trộm cắp tài sản của người khác và bị xét xử nhưng bị cáo không lấy đó là bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo để bị cáo nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Hiện nay, bị cáo đang chấp hành hình phạt tù của bản án số 53/2023/HSST ngày 02/3/2023 cần tổng hợp hình phạt của cả hai bản án đối với bị cáo. [5] Đối với Nguyễn Thị Anh Đ khi mua xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 81G1-015.96, Đ không biết đây là tài sản do H trộm cắp nên không có cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự của Đ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. [6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, bị hại Nguyễn Thị K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Anh Đ vắng mặt nên cần tách phần trách nhiệm dân sự giữa bị cáo H với bị hại K, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đ thành vụ kiện dân sự khác khi bị hại. [7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Chung H. Xử phạt: bị cáo Phạm Chung H 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với phần hình phạt 08 (tám) năm 9 (chín) tháng tù của bản án số 53/2023/HSST ngày 02/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố N, buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 10 (mười) năm 9 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2021. Về trách nhiệm dân sự: Tách phần trách nhiệm dân sự giữa bị cáo Phạm Chung H với bị hại Nguyễn Thị K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Anh Đ thành vụ kiện dân sự khác khi bà K, bà Đ có yêu cầu. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Phạm Chung H nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ