- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn G - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 155/2023/HS-ST Ngày 30 – 5 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hải Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ;
2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trân - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 127/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Hà Văn G, sinh năm 1986, tại tỉnh T. Nơi đăng ký HKTT: Thôn M, xã Đ, huyện B, tỉnh T. Chỗ ở: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Phụ xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Tuấn A (đã chết) và bà Hà Thị T, sinh năm 1960. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Bị cáo có 02 chị em (lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1993); Bị cáo sinh sống như vợ chồng với Hà Thị S, sinh năm 1991 (nhưng không đăng ký kết hôn hiện đã ly thân), có 02 con (lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2017). Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 10/5/2018, bị Công an huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 39/QĐ-XPVPHC ngày 10/5/2018 xử phạt 3.000.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác.
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965; địa chỉ: Khu dân cư T, phường C, thành phố C, tỉnh H. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Thành D. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 13 tháng 01 năm 2023, Hà Văn G mượn xe mô tô biển số 34K4-4756 của người bạn tên T (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để đi công việc thì T đồng ý. Sau khi mượn được xe, G điều khiển xe mô tô biển số 34K4-4756 đi đến khu vực ngã tư đường Lê Thị Trung giao với đường Mỹ Phước – Tân Vạn thuộc phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, gặp một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá thì người thanh niên đồng ý và giao cho G 01 gói nylon hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng. G cầm gói ma tuý cất giấu vào trong ống quần đùi jean bên phải của G đang mặc rồi điều khiển xe tìm nơi để sử dụng.
Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi G điều khiển xe đi đến trước nhà số 35/6 đường Đ, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì gặp lực lượng Công an phường Dĩ An tuần tra, yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, phát hiện trong trong ống quần đùi jean bên phải của G đang mặc có 01 (một) gói nylon miệng hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng, G khai nhận là ma tuý đá. Công an phường Dĩ An tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa về trụ sở làm việc. Sau đó Công an phường Dĩ An chuyển giao người cùng tang vật cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An xử lý theo thẩm quyền.
Tang vật thu giữ:
- 01 xe mô tô, biển số 34K4-4756, số máy: FMG2013362, số khung 0041D013362.
- 01 gói nilon miệng hàn kín chứa tinh thể màu trắng (M= 0,1607 gam).
Tại Kết luận giám định số 46/KL-KTHS(MT) ngày 17/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1607 gam, loại Methamphetamine.
Tại Bản Cáo trạng số: 157/CT-VKS-DA ngày 17 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Hà Văn G về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, Theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- Về hình phạt:
+ Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn G từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
- Về xử lý vật chứng:
+ Đối với bì thư đã niêm phong, bên trong có 0,1084 gam ma túy, loại Methamphetamine, là mẫu vật còn lại sau giám định đề nghị tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 xe mô tô biển số 34K4-4756, số máy: FMG2013362, số khung 0041D013362, qua xác minh chủ sơ hữu phương tiện đối với xe mô tô trên là ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965. Qua làm việc ông T xác nhận xe mô tô trên đã bán lại cho người thanh niên không rõ lai lịch vào năm 2015 (việc mua bán không có ký hợp đồng chuyển nhượng, không làm thủ tục sang tên). Đối với xe mô tô trên, G khai nhận mượn của người tên T (không rõ nhân thân, lai lịch). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu xe mô tô nhưng không có ai đến làm việc, hiện chưa xác định được chủ sở hữu nên đề nghị giao xe cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục điều tra xác minh, xử lý sau.
Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho Hà Văn G hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn G không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo có điều kiện cải tạo làm người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm Sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn T, người chứng kiến ông Nguyễn Thành D nhưng họ đã có lời khai đầy đủ nên sự vắng mặt của ông T, ông D không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T, ông D.
Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; căn cứ biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 13/01/2023; Kết luận giám định số 46/KL-KTHS(MT) ngày 17/01/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương và các chứng cứ, tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 13/01/2023, tại trước nhà số 35/6 đường Đ, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Hà Văn G đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, khối lượng 0,1607 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng mà không phải là nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy.
Như vậy, hành vi của bị cáo Hà Văn G đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo với tội danh, điều, khoản và điểm nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, người sử dụng ma túy sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, tạo nên ảnh hưởng xấu cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để có ma tuý cho bản thân sử dụng đã cố ý thực hiện tội phạm.
Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Ngày 10/5/2018, bị Công an huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 39/QĐ-XPVPHC ngày 10/5/2018 xử phạt 3.000.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác. Theo Văn bản số 100/CSĐT ngày 08/3/2023 của Công an huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa thể hiện Công an huyện Bá Thước chưa giao được quyết định trên cho bị cáo, bị cáo chưa chấp hành quyết định xử phạt. Như vậy, tính đến thời điểm bị cáo phạm tội là đã hết một năm từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà bị cáo không tái phạm, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 7, Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì bị cáo được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Từ những phân tích nêu trên cho thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy đã áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với bì thư đã niêm phong, bên trong có 0,1084 gam ma túy, loại Methamphetamine, là mẫu vật còn lại sau giám định đây là vật chứng liên quan đến vụ án nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 xe mô tô biển số 34K4-4756, số máy: FMG2013362, số khung 0041D013362, qua xác minh chủ sơ hữu phương tiện đối với xe mô tô trên là ông Nguyễn Văn T. Qua làm việc ông T xác nhận xe mô tô trên đã bán lại cho người thanh niên không rõ lai lịch vào năm 2015 (việc mua bán không có ký hợp đồng chuyển nhượng, không làm thủ tục sang tên). G khai nhận mượn chiếc xe trên của người bạn tên T (không rõ nhân thân, lai lịch). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu xe mô tô nhưng không có ai đến làm việc, hiện chưa xác định được chủ sở hữu nên cần giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục điều tra xác minh, xử lý sau.
Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho Hà Văn G hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ những nhận định nêu trên, nhận thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Hà Văn G phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Hà Văn G 01 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 13/01/2023.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 Bì thư đã niêm phong, bên trong có chứa 0,1084 gam ma túy, loại Methamphetamine, là mẫu vật còn lại sau giám định.
- Giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục điều tra xác minh, xử lý sau đối với 01 xe mô tô biển số 34K4-4756, số máy: FMG2013362, số khung 0041D013362.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/4/2023).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hà Văn G phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo Hà Văn G có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Dĩ An; - Công an thành phố Dĩ An; - Chi cục THADS thành phố Dĩ An; - PV 06 - Công an tỉnh Bình Dương; - PC 10 - Công an tỉnh Bình Dương; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hải Nam |