- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T.N TỈNH T.N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 155/2023/HS-ST Ngày 29-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T.N, TỈNH T.N
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Hồng Giang;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Đức Tươi và bà Nguyễn Thị Hoàng Lan.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Hoàng Yên, Thư ký Toà án nhân dân thành phố T.N, tỉnh T.N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T.N tham gia phiên toà: Ông Vũ Xuân Đại, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T.N, tỉnh T.N xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 129/2023/TLST-HS ngày 26/4/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2023/QĐXXST-HS ngày 10/5/2023, đối với bị cáo:
NGUYỄN THANH N, tên gọi khác: Không; sinh ngày 07/3/1978, tại T.N; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm TS 1, xã QT, thành phố T.N, tỉnh T.N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Ninh Thị S; có vợ là Đặng Thị Thanh Nh (đã ly hôn) và 01 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại tại địa phương, bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và Cấm xuất cảnh (có mặt).
Bị hại: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1986, địa chỉ tổ 12, phường Tân Thịnh, thành phố T.N, tỉnh T.N, (vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn N A, sinh năm 1992, địa chỉ tổ 12, phường Tân Thịnh, thành phố T.N, tỉnh T.N, (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1985, địa chỉ xóm TS 1, xã QT, thành phố T.N, tỉnh T.N, (vắng mặt).
Người làm chứng:
- Anh Hứa Văn D, sinh năm 1997, địa chỉ xóm Thịnh Lâm, xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh T.N, (vắng mặt).
- Chị Đặng Thúy H, sinh năm 1980, địa chỉ tổ 5, phường Gia Sàng, thành phố T.N, tỉnh T.N, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 15 phút, ngày 15/9/2022, Nguyễn Thanh N, trú tại xóm TS 1, xã QT, thành phố T.N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS 20B2-392.57 phía sau chở chị Đặng Thúy Hà, khi đi đến khu vực cổng trường Đại học Công nghệ thông tin thuộc xóm Sơn Tiến, xã QT, thành phố T.N thì gặp Nguyễn Thanh T, trú tại tổ 12 phường Tân Thịnh, thành phố T.N điều khiển xe ô tô chuyển hướng và quay đầu xe bất ngờ, N đã phanh xe gấp sau đó N và T cãi, chửi nhau, T quay lại xe ô tô lấy 01 gậy gỗ dài khoảng 50 cm, đường kính 04 cm vụt vào đầu, tay và bả vai trái của N, N nhặt 01 viên gạch bên lề đường ném về phía T, T tránh được nên viên gạch trúng vào phần kính chắn gió phía sau xe ô tô của T làm kính xe bị nứt vỡ. T bỏ chạy, N cầm mũ bảo hiểm đuổi theo nhưng không đuổi kịp, N đi đến phần đầu xe ô tô của T, cầm mũ bảo hiểm của mình đập nhiều nhát vào kính chắn gió phía trước xe ô tô của T, làm kính xe bị nứt, vỡ. N và T đến Công an xã QT, thành phố T.N đề nghị giải quyết.
Về thương tích của N: Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 14/TgT ngày 10/01/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T.N, kết luận: Nguyễn Thanh N bị gãy không di lệch 1/3 xương dưới trụ cẳng tay trái; sẹo ngón tay III bàn tay phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 07%. Tại Cơ quan điều tra N có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án đối với hành vi cố ý gây thương tích của T.
Về giá trị thiệt hại đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 20A-553.23: Tại Kết luận định giá tài sản ngày 20/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T.N, kết luận: Xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA Vios màu bạc, biển kiểm soát 20A-553.23. Kính chắn gió phía trước bị nứt vỡ, giá trị thiệt hại là 2.600.000 đồng; kính chắn gió phía sau bị nứt vỡ, giá trị thiệt hại là 2.800.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thanh N và anh Nguyễn Thanh T đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại. Anh T đã tự nguyện bồi thường cho N 3.000.000 đồng về hành vi gây thương tích, N không có yêu cầu gì. Về thiệt hại đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 20A-553.23 anh T tự nguyện sửa chữa, không yêu cầu N bồi thường.
Về vật chứng:
- 01 chiếc xe ô tô biển kiểm soát 20A-553.23. Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô do chị Nguyễn N Anh, sinh năm 1992 là vợ của anh T đứng tên và là chủ sở hữu hợp pháp. Ngày 05/10/2022, Cơ quan điều tra Công an thành phố T.N đã trả lại chiếc xe ô tô nêu trên cho chị Anh quản lý sử dụng.
- 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20B2-392.57. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô này do anh Nguyễn Văn Hiếu, sinh năm 1985 (em ruột Nguyễn Thanh N) là người đứng tên và là chủ sở hữu hợp pháp. Năm 2021, Hiếu giao xe cho N quản lý, sử dụng chiếc xe nêu trên. Ngày 05/10/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T.N đã trả lại chiếc xe mô tô nêu trên cho N quản lý sử dụng.
- 01 mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ ¾ có kính chắn gió, mặt ngoài có nhiều vết trầy xước; 01 viên gạch nung màu đỏ đen kích thước 10x5x8 cm; 01 viên gạch nung màu đỏ đen kích thước 14x10x5 cm; 01 gậy gỗ hình trụ dài 0,6cm, đường kính 3,5 cm.
Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác trong vụ án, không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.N và việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T.N, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T.N.
Bản cáo trạng số 124/CT-VKS-TPTN ngày 18/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T.N truy tố Nguyễn Thanh N, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát đã rút một phần quyết định truy tố đối với hành vi ném gạch trúng vào kính chắn gió phía sau của xe ô tô gây hư hỏng thiệt hại 2.800.000 đồng, đây là hành vi vô ý của N không cấu thành tội phạm, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, e, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt tiền bị cáo từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ ¾ có kính chắn gió, mặt ngoài có nhiều vết trầy xước; 01 viên gạch nung màu đỏ đen kích thước 10x5x8 cm; 01 viên gạch nung màu đỏ đen kích thước 14x10x5 cm; 01 gậy gỗ hình trụ dài 0,6cm, đường kính 3,5 cm.
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo có lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T.N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T.N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T.N rút một phần quyết định truy tố đối với hành vi ném gạch trúng vào kính chắn gió phía sau của xe ô tô, gây hư hỏng thiệt hại 2.800.000 đồng. Mục đích N ném gạch là để gây thương tích cho T, nhưng anh T tránh được dẫn đến viên gạch trúng vào kính chắn gió phía sau của xe ô tô gây hư hỏng tài sản. Hành vi này của N là vô ý nên không cấu thành tội phạm. Xét thấy, việc rút một phần truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, cụ thể: Khoảng 22 giờ 15 phút, ngày 15/9/2022, do mâu thuẫn trong khi tham gia giao thông, dẫn đến bị cáo và anh Nguyễn Thanh T đã có hành vi cãi chửi và đánh nhau. Sau đó bị cáo đã dùng mũ bảo hiểm đập vỡ kính chắn gió phía trước của chiếc xe ô tô, nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 20A-553.23 do vợ chồng anh Nguyễn Thanh T là chủ sở hữu hợp pháp, gây thiệt hại 2.600.000 đồng.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự, điều luật có nội dung:
“1. Người nào … cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng…thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.0000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”;
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm e, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự; nguyên nhân dẫn đến bị cáo có hành vi phạm tội là do bức xúc về việc bị hại dùng gậy đánh gây thương tích cho mình, bị hại cũng có một phần lỗi. Do vậy, đại diện Viện kiểm sát đề nghị phạt tiền đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận, xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt là phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe, và phòng ngừa chung trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp Đảng và Nhà nước đối với người lỗi lầm nhất thời phạm tội.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn và không có thu nhập ổn định, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc mũ bảo hiểm; 01 viên gạch nung màu đỏ đen kích thước 10x5x8 cm; 01 viên gạch nung màu đỏ đen kích thước 14x10x5 cm; 01 gậy gỗ hình trụ dài 0,6cm, đường kính 3,5 cm, xét thấy đây là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu huỷ.
Đối với hành vi của Nguyễn Thanh T dùng gậy gỗ đánh gây thương tích cho Nguyễn Thanh N với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 07%, đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, ngày 27/9/2022 N có đơn yêu cầu không khởi tố đối với vụ án. Ngày 16/3/2023, Công an thành phố T.N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh T về hành vi “Cố ý gây thương” với số tiền 6.500.000 đồng, xét thấy là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm e, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu huỷ gồm:
- 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen có hoạ tiết caro màu đỏ có chữ (Royal Helmet), loại mũ ¾ có kính chắn gió, mặt ngoài mũ có nhiều vết trầy xước;
- 01 (một) viên gạch nung màu nâu đỏ, đen kích thước (10x5x8) cm;
- 01 (một) viên gạch nung màu nâu đỏ, đen kích thước (14x10x5) cm;
- 01 (một) gậy gỗ hình trụ dài 60 cm, đường kính 3,5 cm.
Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 320 ngày 10/5/2023 giữa Công an thành phố T.N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T.N.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thanh N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Nguyễn Thanh T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn N A, anh Nguyễn Văn H vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định./.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh T.N;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND tỉnh T.N
- VKSND TP. T.N;
- Trại tạm giam CA tỉnh T.N;
- Công an TP. T.N;
- Chi cục THADS TP. T.N;
- Sở Tư pháp tỉnh T.N;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.
Vương Hồng Giang THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vương Hồng Giang
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh T.N;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND tỉnh T.N
- VKSND TP. T.N;
- Trại tạm giam CA tỉnh T.N;
- Công an TP. T.N;
- Chi cục THADS TP. T.N;
- Sở Tư pháp tỉnh T.N;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.
Vương Hồng Giang THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vương Hồng Giang
| Nơi nhận: - TAND tỉnh T.N; - VKSND tỉnh T.N - VKSND TP. T.N; - Trại tạm giam CA tỉnh T.N; - Công an TP. T.N; - Chi cục THADS TP. T.N; - Sở Tư pháp tỉnh T.N; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vương Hồng Giang |