vanban.org

Bản án 155/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 - Xử ly hôn giữa chị Trịnh Thị H và anh Lại Văn T.

2 - Về con chung: Xử giao con chung của vợ chồng là cháu Lại Bảo Y, sinh ngày 16/9/2009 cho chị Trịnh Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao cháu Lại Yến N, sinh ngày 24/9/2011 và cháu Lại Hải Đ, sinh ngày 28/4/2018 cho anh Lại Văn T trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Trịnh Thị H đề nghị ly hôn anh Lại Vănt T"
  • Tòa quyết gì? 1 - Xử ly hôn giữa chị Trịnh Thị H và anh Lại Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA HƯNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 19 - 9- 2023.
V/v ly hôn giữa chị H và anh T.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hùng Phương.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đàm Văn Kiều.

2. Ông Vũ Mạnh Toàn.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hồng Nhung – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2023/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2023 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị H, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Xóm M, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

* Bị đơn: Anh Lại Văn T, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Xóm M, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa có mặt chị H, vắng mặt anh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện cũng như lời khai nguyên đơn chị Trịnh Thị H tại phiên tòa thể hiện: Chị kết hôn với anh Lại Văn T vào tháng 01/2008 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Mặc dù đã được hai bên gia đình động viên khuyên bảo nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện. Đến tháng 9/2020 vợ chồng chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị H đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lại Văn T.

Về con chung: Chị Trịnh Thị H xác định giữa chị và anh T có ba con chung là cháu Lại Bảo Y, sinh ngày 16/9/2009; cháu Lại Yến N, sinh ngày 24/9/2011 và cháu Lại Hải Đ, sinh ngày 28/4/2018 (Hiện nay cháu Y đang do chị chăm sóc nuôi dưỡng còn cháu N và cháu Đ đang do anh T chăm sóc nuôi dưỡng). Ly hôn chị H xin nhận trực tiếp nuôi cháu Y và để anh T trực tiếp nuôi cháu N và cháu Đ. Không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị Trịnh Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí chị Trịnh Thị H đề nghị giải quyết theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Lại Văn T vắng mặt nhưng anh T có đơn xin giải quyết vắng mặt. Lời khai của anh Lại Văn T trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện: Anh kết hôn với chị H vào tháng 01/2008 kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến cuối năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Đến cuối năm 2018 vợ chồng anh sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nay chị H xin ly hôn anh thì anh cũng nhất trí.

Về con chung: Anh Lại Văn T xác định giữa anh và chị H có ba con chung là cháu Lại Bảo Y, sinh ngày 16/9/2009; cháu Lại Yến N, sinh ngày 24/9/2011 và cháu Lại Hải Đ, sinh ngày 28/4/2018. Ly hôn anh xin nhận trực tiếp nuôi ba con và không yêu cầu chị H phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản chung: Anh Lại Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Xử ly hôn giữa chị Trịnh Thị H và anh Lại Văn T; Về con chung: Giao cháu Lại Bảo Y, sinh ngày 16/9/2009 cho chị Trịnh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Lại Yến N, sinh ngày 24/9/2011 và cháu Lại Hải Đ, sinh ngày 28/4/2018 cho anh Lại Văn T trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung; Về án phí dân sự sơ thẩm: chị H phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Lại Văn T hiện đang cư trú tại xã N, huyện N. Nay chị Trịnh Thị H xin ly hôn anh Lại Văn T, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay anh Lại Văn T vắng mặt nhưng anh T có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Trịnh Thị H và anh Lại Văn T vào tháng 01 năm 2008 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chống bất đồng về quan điểm sống không hiểu nhau từ đó dẫn đến thường xuyên cãi chửi nhau. Đến tháng 9/2020 thì vợ chồng chị H, anh T sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng giải quyết vợ chồng được ly hôn. Phía anh T cũng nhất trí ly hôn. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị xử ly hôn giữa chị H và anh T.

Hội đồng xét xử thấy: Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh T đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, mặt khác trong quá trình vợ chồng ly thân hai bên không ai quan tâm đến ai do vậy khả năng đoàn tụ giữa vợ chồng chị H và anh T không còn, nay chị H xin ly hôn anh T, phía anh T cũng nhất trí ly hôn xét thấy có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Trịnh Thị H và anh Lại Văn T đều thống nhất xác định vợ chồng có ba con chung là cháu Lại Bảo Y, sinh ngày 16/9/2009; cháu Lại Yến N, sinh ngày 24/9/2011 và cháu Lại Hải Đ, sinh ngày 28/4/2018 (Hiện nay cháu Y đang do chị H chăm sóc nuôi dưỡng còn cháu N và cháu Đ đang do anh T chăm sóc nuôi dưỡng). Ly hôn chị H xin nhận trực tiếp nuôi cháu Y và để anh T nuôi cháu N và cháu Đ. Không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Phía anh T xin nhận trực tiếp nuôi cả ba con chung và không yêu cầu chị H phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Hội đồng xét xử thấy: Nguyện vọng nuôi con của chị H và anh T là chính đáng nhưng hiện chị H và anh T đều làm lao động tự do và cháu Y đang do chị H chăm sóc nuôi dưỡng còn cháu N và cháu Đ đang do anh T chăm sóc nuôi dưỡng. Mặt khác cháu Y có nguyện vọng xin được ở với mẹ và cháu N có nguyện vọng xin được ở với bố. Vì vậy, giao cháu Lại Bảo Y, sinh ngày 16/9/2009 cho chị Trịnh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Lại Yến N, sinh ngày 24/9/2011 và cháu Lại Hải Đ, sinh ngày 28/4/2018 cho anh Lại Văn T trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng bên nào là phù hợp.

Về tài sản chung: Chị Trịnh Thị H và anh Lại Văn T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm chị Trịnh Thị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;

1 - Xử ly hôn giữa chị Trịnh Thị H và anh Lại Văn T.

2 - Về con chung: Xử giao con chung của vợ chồng là cháu Lại Bảo Y, sinh ngày 16/9/2009 cho chị Trịnh Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao cháu Lại Yến N, sinh ngày 24/9/2011 và cháu Lại Hải Đ, sinh ngày 28/4/2018 cho anh Lại Văn T trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung (Hiện nay cháu Y đang do chị H chăm sóc nuôi dưỡng còn cháu N và cháu Đ đang do anh T chăm sóc nuôi dưỡng). Không ai được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm nom con chung.

3 - Án phí dân sự sơ thẩm chị Trịnh Thị H phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0001005 ngày 02/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho người có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ