vanban.org

Bản án 155/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Lệ Th.

Về hôn nhân: Bà Lâm Lệ Th được ly hôn với ông Thiều Công Tuấn A. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 59 ngày 14/7/2017 của Ủy ban dân xã Biển Bạch Đ, huyện Thới B, tỉnh Cà Mau không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Lệ Th.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 155/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 31 - 3 - 2023
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Cao Trí;

Bà Trương Thị Thu Thuỷ.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 619/2022/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lâm Lệ Th, sinh năm 1999. (Xin vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp 6 La C, xã Biển Bạch Đ, huyện Thới B, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Thiều Công Tuấn A, sinh năm 1989. (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Khóm Vĩnh Qu, thị trấn VTT, huyện CP, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/12/2022 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Lâm Lệ Th trình bày: Bà và ông Tuấn A tìm hiểu và được gia đình tổ chức lễ cưới năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Biển Bạch Đ, huyện Thới B, tỉnh Cà Mau. Sau khi cưới cuộc sống ban đầu hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vả nhau, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Nay không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Tuấn A. Con chung có 02 con chung tên Thiều Thị Hiền Th, sinh ngày 25/9/2017 hiện đang ở với bà Th; Thiều Phúc Th2, sinh ngày 28/12/2019 đang ở với ông Tuấn A. Ly hôn, bà Th yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Th, không yêu cầu ông Tuấn A cấp dưỡng nuôi con, giao cháu Th2 cho ông Tuấn A tiếp tục nuôi, bà Th không cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung: Không có; Nợ chung: không có.

Đối với bị đơn ông Thiều Công Tuấn A, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng ông Tuấn A vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Tuấn A.

Bà Th có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ông Tuấn A vắng mặt tại phiên tòa.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện CP phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biều ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa thấy rằng hôn nhân của bà Th và ông Tuấn A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà Th yêu cầu ly hôn với ông Tuấn A là có cơ sở chấp nhận.

- Về con chung: Bà Th và ông Tuấn A có 02 con chung tên Thều Thị Hiền Th, sinh ngày 25/9/2017 hiện đang ở với bà Th; Thều Phúc Th2, sinh ngày 28/12/2019 đang ở với ông Tuấn A. Cháu Th đang ở với bà Th do bà Th chăm sóc nuôi dưỡng ổn định, nên đề nghị giao cháu Th cho bà Th được trực tiếp nuôi dưỡng; cháu Th2 đang ở với ông Tuấn A do ông Tuấn A chăm sóc nuôi dưỡng ổn định, nên đề nghị giao cháu Th2 cho ông Tuấn A được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Th không yêu cầu ông Tuấn A cấp dưỡng nuôi con chung và ông Tuấn A cũng không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Không có, nên đề nghị không xem xét.

- Về nợ chung: Không có, nên đề nghị không xem xét.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Ông Thều Công Tuấn A có hộ khẩu thường trú tại thị trấn VTT, huyện CP. Bà Th khởi kiện xin ly hôn, Tòa án nhân dân huyện CP thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Bà Th và ông Tuấn A chung sống với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Biển Bạch Đ, huyện Thới B, tỉnh Cà Mau nên được pháp luật công nhận là vợ chồng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8; khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Sau khi kết hôn ông bà có cuộc sống hạnh phúc được một thời gian, nhưng thời gian sau xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường hay cải vả và phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng đã ly thân hơn 06 tháng. Hiện nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà Th xin ly hôn với ông Tuấn A. Quá trình giải quyết vụ án bà Th kiên quyết xin ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy bà Th đã kiên quyết ly hôn, Tòa án đã hòa giải cho ông bà đoàn tụ nhưng ông Tuấn A đều vắng mặt. Vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Th.

- Về con chung: Bà Th và ông Tuấn A chung sống có 02 con chung tên Thều Thị Hiền Th, sinh ngày 25/9/2017 hiện đang ở với bà Th; Thều Phúc Th2, sinh ngày 28/12/2019 đang ở với ông Tuấn A. Xét, cháu Th đang ở với bà Th do bà Th chăm sóc nuôi dưỡng ổn định, bà Th có nguyện vọng muốn tiếp tục nuôi cháu Th nên Hội đồng xét xử giao cháu Th cho bà Th được trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với cháu Th2 đang ở với ông Tuấn A do ông Tuấn A chăm sóc nuôi dưỡng ổn định, bà Th giao cháu Th2 cho ông Tuấn A tiếp tục nuôi nên Hội đồng xét xử giao cháu Th2 cho ông Tuấn A được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà Th, ông Tuấn A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; quyền nuôi con là không cố định. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Th không yêu cầu ông Tuấn A cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Bà Th phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẻ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Lệ Th.

Về hôn nhân: Bà Lâm Lệ Th được ly hôn với ông Thiều Công Tuấn A.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 59 ngày 14/7/2017 của Ủy ban dân xã Biển Bạch Đ, huyện Thới B, tỉnh Cà Mau không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Giao con chung tên Thều Thị Hiền Th, sinh ngày 25/9/2017 cho bà Lâm Lệ Th được trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung tên Thều Phúc Th2, sinh ngày 28/12/2019 cho ông Thều Công Tuấn A được trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Th, ông Tuấn A cùng với các thành viên trong gia đình không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Lâm Lệ Th phải chi ̣u 300.000đ (Ba trăm nghin đồng) án phi

̀

́ Hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghin đồng) ta ̣m

̀ ứ ng án phi đa nô ̣̃ p theo biên lai thu số 0005129 ngày 27 tháng 12 năm 2022 của Chi

́ cu ̣c Th hành án dân sự huyện CP.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được Th hành theo quy định tại Điều 2 Luật Th hành án dân sự thì người được Th hành án dân sự, người phải Th hành án dân sự có quyền thỏa thuận Th hành án, quyền yêu cầu Th hành án, tự nguyện Th hành án hoặc bị cưỡng chế Th hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Th hành án dân sự, thời hiệu Th hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Th hành án dân sự./.

Cỡ chữ