vanban.org

Bản án 155/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 30/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Kim T (Bơ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Kim T (Bơ) 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 06/07/2022. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Trần Quang L số tiền 7.500.000đ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Kim T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Kim T (Bơ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2022/HS-ST
Ngày 30/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Bảo Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Trâm và ông Đỗ Quang Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Trần Thanh Thư – Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 140/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 09 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 09 năm 2022 đối với bị cáo:

TRẦN KIM T (Bơ), sinh năm 1994 tại Ninh Thuận. Hộ khẩu thường trú: Khu phố 6, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Kim Ph, sinh năm: 1963 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1959; chưa có vợ con.

Tiền án:

- Ngày 15/3/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/01/2019.

- Ngày 12/5/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/6/2021.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 24/11/2011, bị công an phường Đô Vinh, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi gây mất trật tự khu dân cư.

- Ngày 14/02/2014, Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Ngày 11/3/2015, bị Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Ngày 29/11/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị bắt ngày 06/7/2022 và hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm. (có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại:

1. Ông Trần Quang L, sinh năm: 1964.

Địa chỉ: Thôn T 1, xã Th, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận. (có yêu cầu xét xử vắng mặt)

2. Ông Võ Đình T, sinh năm: 1957.

Địa chỉ: Khu phố 3, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận. (có yêu cầu xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 26/4/2022 đến ngày 03/7/2022, Trần Kim T đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, Cụ thể:

Vụ thứ 1: Khoảng 10 giờ ngày 24/6/2022, Trần Kim T điều khiển xe mô tô BKS 85L1-3310 đi một mình đến khu vực xã T, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến trước nhà ông Trần Quang L (sinh năm 1964, trú tại thôn T 1, xã T) quan sát thấy nhà ông L không khóa cửa và không có ai trông coi, T đi vào trong thì thấy có một điện thoại hiệu Iphone XS, màu trắng để ở gần chỗ ti vi, T lấy trộm điện thoại nói trên rồi đi về. Sau khi về, T ghé quán cà phê ở phường Đ rồi bán điện thoại trên cho một người đàn ông (không rõ nhân thân) với giá 700.000đ. Số tiền bán được tài sản T đã tiêu xài hết.

Vụ thứ 2: Khoảng 10 giờ ngày 03/7/2022, cũng phương thức như trên, Trần Kim T đến trước nhà ông Võ Đình T quan sát thấy cửa nhà ông T mở và không có ai trông coi, T đi vào bên trong thấy ông T đang nằm ngủ, gần chỗ ngủ có 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung A23, màu xanh, ốp bằng nhựa cứng màu đen. T lấy điện thoại này bỏ vào túi quần rồi đi ra lấy xe chạy về nhà ở phường Đ. Sau đó, T tháo ốp lưng và sim điện thoại ném đi rồi lấy điện thoại mà T trộm được để sử dụng. Ngày 06/7/2022, Công an phường Đ mời T lên làm việc và phát hiện T đang sử dụng điện thoại Sam Sung A23 mà T lấy trộm của người khác, quá trình làm việc T đã khai nhận hành vi trộm cắp điện thoại của ông L vào ngày 24/6/2022 tại xã T.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 65/KLTS ngày 07 tháng 7 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm kết luận: Vào ngày 03/7/2022, 01 điện thoại Sam Sung A23, màu xanh có giá trị thực có là 4.152.000đ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 88/KLTS ngày 17 tháng 8 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phan Rang-Tháp Chàm kết luận: Vào ngày 24 tháng 6 năm 2022, 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu trắng có giá trị thực có 7.500.000đ và vào ngày 03 tháng 7 năm 2022, 01 ốp lưng của điện thoại di động hiệu Sam Sung A23, bằng nhựa, màu đen có giá trị thực có là 10.000đ.

Về vật chứng của vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung A23, màu xanh có gắn ốp lưng màu đen là tài sản của ông Võ Đình T. Quá trình trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông T, riêng 01 ốp lưng màu đen của điện thoại di động hiệu Sam Sung A23 không thu hồi được. 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu trắng là tài sản của ông Trần Quang L, T đã bán cho người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch với số tiền 700.000 đồng, quá trình điều tra không thu hồi được.

Cáo trạng số: 135/CT–VKSPRTC ngày 19/09/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm truy tố bị cáo Trần Kim T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm g khoản 2 điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Trần Kim T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

- Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Đình T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Bị hại Trần Quang L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 7.500.000đ, bị cáo đồng ý bồi thường nhưng chưa thực hiện, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Trần Quang L số tiền 7.500.000đ.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Kim T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Ngày 24/6/2022 và ngày 03/7/2022, bị cáo đã thực hiện 02 vụ trộm cắp điện thoại di động của ông Trần Quang Linh trị giá 7.500.000đ và của ông Võ Đình Thân trị giá 4.162.000đ (điện thoại trị giá 4.152.000đ và ốp lưng trị giá 10.000đ), tổng giá trị bị chiếm đoạt là 11.662.000đ. Bị cáo có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản, đã tái phạm và chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm truy tố về tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra. Xét bị cáo thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản có giá trị trên 2.000.000đ là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đồng thời, bị cáo có nhân thân xấu vì trước đây đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị Tòa án kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, sau khi được Công an mời lên làm việc bị cáo đã tự nguyện khai nhận điện thoại mình đang sử dụng là do trộm cắp mà có và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại Võ Đình T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với bị hại Trần Quang L yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 7.500.000đ, bị cáo đồng ý bồi thường nhưng chưa thực hiện, vì vậy buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Trần Quang L số tiền 7.500.000đ.

Đối với xe mô tô kiểu dáng Wave BKS 85L1-3310, quá trình điều tra xác định xe mô tô này là của ông Trần Kim Ph, khi ông Ph cho bị cáo mượn xe, không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại xe cho ông Ph và không đề nghị xử lý là phù hợp.

Đối với người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) mua điện thoại Iphone XS. Quá trình điều tra, không xác định được nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Kim T (Bơ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Kim T (Bơ) 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 06/07/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Trần Quang L số tiền 7.500.000đ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Về án phí: Bị cáo Trần Kim T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Cỡ chữ