vanban.org

Bản án 155/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 16/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thái T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái T 03 năm 06 tháng (Ba năm sáu tháng) tù giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/7/2022. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xử lý như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN THÁI T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thái T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
QUẬN N
THÀNH PHỐ C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2022/HS-ST
Ngày: 16/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ C

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tr

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hồ Thị Kim L

2. Bà Nguyễn Trường H

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc S – Thư ký Tòa án nhân dân quận N, thành phố C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị D – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân quận N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 148/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 982/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:

NGUYỄN THÁI T (Có mặt)

Sinh năm 1984; Nơi sinh: thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 09/12.

Nơi thường trú: Không có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú.

Nơi ở hiện tại: Số 95A/NB, khu vực Bình Thường B, phường L, quận B, thành phố C.

Họ và tên cha: Thái Mạnh T (chết).

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị G sinh năm 1964 (sống);

Anh em ruột: 02 người, lớn sinh năm 1980, nhỏ sinh năm 1990.

Sống chung như vợ chồng với Nguyễn Kim H sinh năm 1992.

Con: 01 người, sinh năm 2013.

Tiền án: 01 lần, ngày 13/4/2015 bị Tòa án nhân dân quận 3, thành phố H xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/5/2016, chưa đóng án phí.

Tiền sự: chưa.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/7/2022, chuyển tạm giam ngày 23/7/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận N.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Mỹ X sinh năm 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: 1B, Trần Hoàng Na, phường A, quận N, thành phố C.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Kim H sinh năm 1992 (vắng mặt) Địa chỉ: 95A/NB, khu vực Bình Thường B, phường L, quận B, thành phố C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 13/7/2022, Nguyễn Thái T điều khiển xe mô tô biển số 65D1-485.43 từ nhà số 95A/NB, khu vực Bình Thường B, phường L, quận B, thành phố C đến đường 3/2, quận N để mua cá lia thia về nuôi nhưng không được nên điều khiển xe về nhà. Trên đường về, bị cáo T đi ngang cửa hàng màn cửa Tây Đô tại địa chỉ: 1B, Trần Hoàng Na, phường A, quận N, thành phố C. Bị cáo thấy cửa hàng không có người trông coi nên dừng xe đi vào bên trong và lén lút lấy một túi xách kiểu dáng nữ, màu đen của chị Nguyễn Thị Mỹ X. Sau khi lấy túi xách, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 65D1-485.43 về nhà và mở túi xách kiểm tra thì phát hiện bên trong có 01 sợi dây chuyền màu vàng, 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đỏ, tiền Việt Nam 59.700.000 đồng. Bị cáo lấy 300.000.000 đồng đi mua vịt quay về ăn cùng gia đình, tặng cho vợ là chị Nguyễn Kim H 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đỏ, 01 sợi dây chuyền màu vàng. Bị cáo nói với chị H số tài sản này do người bạn ở thành phố Hồ Chí Minh tặng nên chị H không hỏi gì thêm và đi nghỉ ngơi. Số tài sản còn lại bị cáo cất giấu trong tủ đựng giày phía sau cửa phòng ngủ của bị cáo. Ngày 13/7/2022, chị Nguyễn Thị Mỹ X trình báo Công an phường An Bình về việc mất trộm tài sản. Qua rà soát camera an ninh trên địa bàn xảy ra vụ mất trộm xác định Nguyễn Thái T địa chỉ: 95A/NB, khu vực Bình Thường B, phường L, quận B, thành phố C là người thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của chị Nguyễn Thị Mỹ X. Đến khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 14/7/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận N tiến hành khám xét nơi ở của bị cáo tại địa chỉ: 95A/NB, khu vực Bình Thường B, phường L, quận B, thành phố C. Qua khám xét thu giữ vật chứng gồm: Tiền Việt Nam 59.400.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 túi xách màu đen có quay xách và dây đeo; 01 nón bảo hiểm màu bạc, đã qua sử dụng; 01 áo thun tay ngắn, màu đen; 01 quần sọt jean màu xám xanh; 01 đôi dép quay ngang bằng cao su màu đen, sọc ca rô trên quay dép. Đến ngày 15/7/2022, chị Nguyễn Thị H giao nộp 01 sợi dây chuyền 18K, trọng lượng 4,33 chỉ.

Tại bản kết luận giám định tài sản số 1261/KL-HĐĐG ngày 20/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận N, thành phố C xác định: 01 dây chuyền vàng 18K – kim loại màu vàng với chất lượng (tuổi vàng) 75%, số lượng 4,33 chỉ, có tổng giá trị là 17.129.000 đồng. Đối với tài sản chưa có thông tin 01 túi xách kiểu dáng nữ (chưa rõ chất liệu, nhãn hiệu) và 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus (thông tin về dung lượng), Hội đồng không có cơ sở để xác định giá trị tài sản tại thời điểm bị xâm hại.

Tại bản kết luận giám định tài sản số 1761/KL-HĐĐG ngày 20/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận N, thành phố C xác định: Điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu đỏ, dung lượng 32GB có giá trị 3.000.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, bị cáo thừa nhận lấy trộm tài sản của chị Nguyễn Thị Mỹ X vào ngày 13/7/2022. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận N đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Nguyễn Thị Mỹ X số tiền 59.400.000 đồng; 01 dây chuyền vàng 18K, số lượng 4,33 chỉ; 01 túi xách kiểu dáng nữ; 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu đỏ. Chị Nguyễn Thị Mỹ X đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm.

Đối với chị Nguyễn Thị H (người sống chung như vợ chồng với bị cáo) các tài sản gồm điện thoại và dây chuyền được bị cáo tặng. H không biết tài sản này do phạm tội mà có nên đã tự nguyện giao nộp tài sản. Do đó, chưa đủ cơ sở xử lý H vai trò đồng phạm với bị cáo về hành vi trộm cắp tài sản.

Tại bản cáo trạng số 143/CT-VKSNK ngày 03 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận N, thành phố C truy tố bị cáo Nguyễn Thái T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với 01 nón bảo hiểm màu bạc, đã qua sử dụng; 01 áo thun tay ngắn, màu đen; 01 quần sọt jean màu xám xanh; 01 đôi dép quay ngang bằng cao su màu đen, sọc ca rô trên quay dép là của bị cáo, bị cáo không yêu cầu nhận lại và thống nhất đề nghị tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 300.000 đồng bị cáo đã lấy của bị hại để tiêu xài cá nhân nhưng do bị hại không yêu cầu bị cáo trả nên bị cáo không ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo bản cáo trạng số 143/CT-VKSNK ngày 03 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận N. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra và phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, các biên bản có trong hồ sơ vụ án. Ngày 13/7/2022, bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của chị Nguyễn Thị Mỹ X tại địa chỉ 1B, Trần Hoàng Na, phường A, quận N, thành phố C với tổng giá trị tài sản là 79.829.000 đồng. Bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi bị cáo xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền sự. Bị cáo có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Thái Tâm tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái Tâm mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù giam.

- Về xử lý vật chứng:

+ Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N đã ra quyết định xử lý vật chứng số 75 ngày 16/9/2022: Trả lại cho chị Nguyễn Thị Mỹ X số tiền 59.400.000 đồng; 01 dây chuyền vàng 18K, số lượng 4,33 chỉ; 01 túi xách kiểu dáng nữ; 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu đỏ. Chị Nguyễn Thị Mỹ X đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm.

+ Đối với 01 nón bảo hiểm màu bạc, đã qua sử dụng; 01 áo thun tay ngắn, màu đen; 01 quần sọt jean màu xám xanh; 01 đôi dép quay ngang bằng cao su màu đen, sọc ca rô trên quay dép của bị cáo, bị cáo không nhận lại, thống nhất tịch thu tiêu hủy nên tịch đề nghị thu tiêu hủy.

- Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 300.000 đồng bị cáo đã lấy của bị hại để tiêu xài cá nhân nhưng do bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an quận Ninh Kiều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Thủ tục tố tụng: Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bị hại đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát ý kiến về việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vì họ đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai và làm rõ các tình tiết trong vụ án nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thái T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận N đã truy tố. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận N truy tố bị cáo Nguyễn Thái T tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận những chứng cứ buộc tội của Viện kiểm sát và đề nghị của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Ngày 13/7/2022, bị cáo Nguyễn Thái T đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của chị Nguyễn Thị Mỹ X tại Cửa hàng màn cửa Tây Đô - Địa chỉ 1B, Trần Hoàng Na, phường A, quận N, thành phố C. Bị cáo có ý thức chiếm đoạt tài sản của chị Xuyên nên đã mang về nhà cất giấu tại số 95A/NB, khu vực Bình Thường B, phường L, quận B, thành phố C. Ngày 14/7/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận N tiến hành khám xét nơi ở của bị cáo tại địa chỉ: 95A/NB, khu vực Bình Thường B, phường L, quận B, thành phố C. Qua khám xét thu giữ vật chứng bị cáo lấy trộm của chị X gồm: Tiền Việt Nam 59.400.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 túi xách màu đen có quay xách và dây đeo. Đến ngày 15/7/2022, chị Nguyễn Thị H (sống như vợ chồng với bị cáo) giao nộp 01 sợi dây chuyền 18K, trọng lượng 4,33 chỉ của chị X. Bị cáo thừa nhận bị cáo lấy trộm các tài sản nêu trên của chị X.

Căn cứ kết luận giám định tài sản số 1261/KL-HĐĐG ngày 20/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận N, thành phố C xác định: 01 dây chuyền vàng 18K – kim loại màu vàng với chất lượng (tuổi vàng) 75%, số lượng 4,33 chỉ, có tổng giá trị là 17.129.000 đồng. Đối với tài sản chưa có thông tin 01 túi xách kiểu dáng nữ (chưa rõ chất liệu, nhãn hiệu), Hội đồng không có cơ sở để xác định giá trị tài sản tại thời điểm bị xâm hại. Căn cứ kết luận giám định tài sản số 1761/KL-HĐĐG ngày 20/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận N, thành phố C xác định: Điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu đỏ, dung lượng 32GB có giá trị 3.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo lấy trộm là 79.829.000 đồng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Về nhân thân: Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích. Bị cáo không có tiền sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thái Tâm đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Do đó, cần một hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo. Đồng thời cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cân nhắc, xem xét đến tính chất, mức độ thực hiện tội phạm và hậu quả xảy ra cũng như nhân thân của bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có 01 tiền án tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo thừa nhận lấy số tiền 300.000 đồng của bị hại tiêu xài cá nhân, do bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xử lý như sau:

- Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N đã ra quyết định xử lý vật chứng số 75 ngày 16/9/2022: Trả lại cho chị Nguyễn Thị Mỹ X số tiền 59.400.000 đồng; 01 dây chuyền vàng 18K, số lượng 4,33 chỉ; 01 túi xách kiểu dáng nữ; 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu đỏ. Chị Nguyễn Thị Mỹ X đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm.

- Đối với 01 nón bảo hiểm màu bạc, đã qua sử dụng; 01 áo thun tay ngắn, màu đen; 01 quần sọt jean màu xám xanh; 01 đôi dép quay ngang bằng cao su màu đen, sọc ca rô trên quay dép của bị cáo, bị cáo không yêu cầu nhận lại, đồng ý tịch thu tiêu hủy nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thái T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thái T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái T 03 năm 06 tháng (Ba năm sáu tháng) tù giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/7/2022.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xử lý như sau:

- Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N đã ra quyết định xử lý vật chứng số 75 ngày 16/9/2022: Trả lại cho chị Nguyễn Thị Mỹ X số tiền 59.400.000 đồng; 01 dây chuyền vàng 18K, số lượng 4,33 chỉ; 01 túi xách kiểu dáng nữ; 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu đỏ.

- Tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm màu bạc, đã qua sử dụng; 01 áo thun tay ngắn, màu đen; 01 quần sọt jean màu xám xanh; 01 đôi dép quay ngang bằng cao su màu đen, sọc ca rô trên quay dép của bị cáo.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/11/2022 giữa Công an quận N và Chi cục Thi hành dân sự N).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thái T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bị hại vắng mặt thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ