vanban.org

Bản án 155/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83, Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quả…

Về hôn nhân: Chị Đoàn Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn Hữu Ch. Về trách nhiệm nuôi con: Giao con chung của vợ chồng là Nguyễn Hữu N, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2018 cho chị Doàn Thị Thùy trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Hữu Ch. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83, Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quả…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƢƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 155 /2022/HNGĐ-ST
Ngày 21 tháng 9 năm 2022
V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƢƠNG, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Trường Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

1, Ông Nguyễn Doãn Ước.

2, Ông Hoàng Văn Bình

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà : Ông Nguyễn Bá Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh NA.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh NA tham gia phiên tòa: Bà Trần Thùy Dung - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 108/ 2022/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 7 năm 2022 về việc: Tranh chấp Hôn nhân gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Th, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn Vinh Ân, xã ĐĐ, huyện TC, tỉnh NA.

Chỗ ở hiện nay: Xóm 3, xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu Ch, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn Vinh Ân, xã ĐĐ, huyện TC, tỉnh NA. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Đoàn Thị Th trình bày:

Chị và anh Nguyễn Hữu Ch kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đại Đồng, huyện TC, tỉnh NA vào ngày 23 tháng 01 năm 2018. Sau khi kết hôn xong vợ chồng về làm ăn và sinh sống hạnh phúc cho đến cuối năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và cũng kể từ đó vợ chồng sống ly thân, cắt đứt mọi quan hệ cho đến nay.

Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị là do trong cuộc sống hai bên không hợp nhau. Nay chị xét thấy tình cảm không còn nữa nên nguyện vọng của chị là muốn được ly hôn với ông Nguyễn Hữu Ch.

Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Hữu N, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2018. Nay ly hôn nguyện vọng của chị là muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hữu N và không yêu cầu anh Nguyễn Hữu Ch góp cấp dưỡng nuôi con cho chị.

Về phân chia tài sản: Chị không có yêu cầu.

Về nợ: Hai người không nợ gì ai và cũng không ai nợ gì hai người.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh NA phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý giải quyết cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án hoàn toàn tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn Hữu Ch.

Về con chung: Giao con chung của vợ chồng là cháu Nguyễn Hữu N, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2018 cho chị Đoàn Thị Thủy trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Hữu Ch.

Về tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc chị Đoàn Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Tranh chấp Hôn nhân gia đình được quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Hữu Ch cư trú tại xã Đại Đồng, huyện TC, tỉnh NA. Cho nên việc thụ lý, giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh NA.

Trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù bị đơn anh Nguyễn Hữu Ch đã nhận được các văn bản tố tụng nhưng đều cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng. Cho nên Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai hay ý kiến của anh Nguyễn Hữu Ch về các vấn đề chị Đoàn Thị Thủy yêu cầu.

Đây là vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Nguyễn Hữu Ch vắng mặt. Nhưng đây là phiên tòa được mở lại lần thứ hai, nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng cho nên việc xét xử vắng mặt anh Nguyễn Hữu Ch là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Cuộc hôn nhân giữa chị Đoàn Thị Th và anh Nguyễn Hữu Ch là hôn nhân hợp pháp. Hai bên kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đại Đồng, huyện TC, tỉnh NA theo quy định. Sau khi kết hôn xong vợ chồng về sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Nay chị Đoàn Thị Th xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên nguyện vọng được ly hôn với anh Nguyễn Hữu Ch. Anh Nguyễn Hữu Ch đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh đều cố tình vắng mặt. Chứng tỏ anh cũng không xem trọng mối quan hệ vợ chồng cho nên cần chấp nhận cho chị Đoàn Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn Hữu Ch là có cơ sở đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng xó 01 con chung là Nguyễn Hữu N, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2018. Nay ly hôn nguyện vọng của chị Đoàn Thị Th muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hữu N và không yêu cầu anh Nguyễn Hữu Ch góp cấp dưỡng nuôi con cho anh. Xét thấy hiện nay cháu Nguyễn Hữu N đang nhỏ, cần sự chăm sóc đặc biệt của người mẹ cho nên cần chấp nhận nguyện vọng của chị Đoàn Thị Th về việc giao cháu Nguyễn Hữu N cho chị Đoàn Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Hữu Ch.

Về phân chia tài sản chung: Không ai có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị Đoàn Thị Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83, Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về hôn nhân: Chị Đoàn Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn Hữu Ch.

Về trách nhiệm nuôi con: Giao con chung của vợ chồng là Nguyễn Hữu N, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2018 cho chị Doàn Thị Thùy trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Hữu Ch.

Về chia tài sản chung và nợ: Không xem xét

Về án phí: Buộc chị Đoàn Thị Thủy phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu tiền tiền tạm ứng án phí số 0009167, ngày 04 tháng 7 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, chị Đoàn Thị Th đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ