vanban.org

Bản án 155/2021/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 18/11/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/11/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của ị cáo Lê Tn M1 Q, Lê Tn P; chấp nhận một phần kháng cáo của ị cáo Lê M1 T sửa ản án hình sự sơ thẩm số 64/2020/HS-ST ngày 20/8/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh về phần hình phạt.

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Tn M1 Q, Lê M1 T và Lê Tn P phạm tội “Lừa ảo chiếm oạt tài sản”. Xử phạt Lê Tn M1 Q 04 (bốn) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh Minh Q phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của ị cáo Lê Tn M1 Q, Lê Tn P; chấp nhận một phần kháng cáo của ị cáo Lê M1 T sửa ản án hình sự sơ thẩm số 64/2020/HS-ST ngày 20/8/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh về phần hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2020/HS-PT
Ngày: 18/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần H2 H

Các thẩm phán: Bà Trương Thị Lệ Thu

Bà Trần Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị M1 Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Phiệt – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 124/2020/TLPT-HS ngày 05/10/2020 ối v i ị cáo Lê Tn M1 Q và ồng phạm có kháng cáo của các ị cáo ối v i Bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2020/HS-ST ngày 20/8/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Lê Tn M1 Q; gi i tính: Nam; sinh ngày 15/11/2002; nơi cư trú: Thôn Quy Thiện, xã H Quy, huyện H Lăng, tỉnh Quảng Trị; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Học sinh; trình ộ học vấn: 11/12; con ông Lê Tn N; sinh năm 1961 và bà Lê Thị Thu; sinh năm 1966; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm i khỏi nơi cư trú từ ngày 20/02/2020 ến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lê M1 T; gi i tính: Nam; sinh ngày 01/01/2004; Nơi cư trú: Thôn Nhan Biền, xã Triệu Thượng, huyện Triệu P, tỉnh Quảng Trị; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao ộng tự do; trình ộ học vấn: 09/12; con ông Lê Đình Ch; sinh năm 1968 và bà Lê Thị Lành; sinh năm 1972; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm i khỏi nơi cư trú từ ngày 20/02/2020 ến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Lê Tn P; gi i tính: Nam; sinh ngày 20/11/1996; Nơi cư trú: Thôn Quy Thiện, xã H Quy, huyện H Lăng, tỉnh Quảng Trị; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao ộng tự do; trình ộ học vấn: 12/12; con ông Lê Tn Tý; sinh năm 1966 và bà Hoàng Thị Thu; sinh năm 1972; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm i khỏi nơi cư trú từ ngày 20/02/2020 ến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Tn M1 Q: Ông Lê Tn N (bố ẻ bị cáo), sinh năm 1961; Trú tại: Thôn Quy Thiện, xã H Quy, huyện H Lăng, tỉnh Quảng Trị (vắng mặt).

Ông Lê Xuân T1, sinh năm 1992 (anh trai ị cáo); trú tại: Thôn Quy Thiện, xã H Quy, huyện H Lăng, tỉnh Quảng Trị (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê M1 T: Ông Lê Đình Ch (bố ẻ bị cáo), sinh năm 1968; Trú tại: Thôn Nhan Biền, xã Triệu Thượng, huyện Triệu P, tỉnh Quảng Trị (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Lê M1 T: Ông Nguyễn Tn M1 - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nư c Hà Tĩnh (có mặt).

Bị hại không kháng cáo:

Chị Nguyễn Thị Tn, sinh năm 1984; nghề nghiệp: Lao ộng tự do; ịa chỉ: Số 10, ường Hàm Nghi, khối phố Linh T1, phường Thạch Linh, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:

1. Chị Thái Thị S, sinh năm 1999; Trú tại: Thôn Ái Tử, xã Triệu Ái, huyện Triệu P, tỉnh Quảng Trị (vắng mặt).

2. Anh Nguyễn Đại V, sinh năm 2002; Trú tại: Thôn Nhan Biền 3, xã Triệu Thượng, huyện Triệu P, tỉnh Quảng Trị (vắng mặt).

3. Bà Lê Thị H2, sinh năm 1964; Trú tại: Thôn Ngũ Hiệp, xã Triệu Thượng,

huyện Triệu P, tỉnh Quảng Trị (vắng mặt).

Những người khác không liên quan ến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án ược tóm tắt như sau:

Vào thời iểm giữa tháng 01 năm 2020, Lê Tn M1 Q nói v i Lê Tn P là có ý ịnh lừa ảo chiếm oạt tài sản qua mạng xã hội và cần có một tài khoản ngân hàng không chính chủ ể nhận tiền lừa ảo nhằm tránh bị phát hiện. Lê Tn P nói v i Q là sẽ giúp Q tìm kiếm tài khoản ngân hàng và Q pH cho P ược hưởng lợi một phần từ số tiền mà Q chiếm oạt ược. Sau ó ến cuối tháng 01 năm 2020, P lên mạng xã hội Facebook và tìm mua ược tài khoản số 0841000118725 ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) chi nhánh Bắc Bình Dương mang tên Đặng Thị H2 Thu từ một người không quen biết (không xác ịnh ược họ, tên, tuổi, ịa chỉ cụ thể) v i số tiền là 2.000.000 ồng rồi gửi cho Q số tài khoản trên ể cùng Q thực hiện hành vi lừa ảo. Đến ngày 01/02/2020 qua các phương tiện thông tin ại chúng, Lê Tn M1 Q biết ược mặt hàng khẩu trang y tế ang khan hiếm và tăng giá vì dịch bệnh viêm ường hô hấp cấp do chủng m i của vi rút Cô-rô-na gây ra (Covid-19) nên Q nảy sinh ý ịnh lừa ảo bán khẩu trang y tế nhằm kiếm tiền tiêu xài cá nhân. Q rủ Lê M1 T cùng tham gia và T ồng ý. Q có nhiệm vụ là lập tài khoản Facebook giả, ăng tin và trực tiếp giao dịch v i người có nhu cầu mua khẩu trang, T sẽ óng giả làm nhân viên nhà xe vận chuyển hàng ể nói chuyện v i những người mua khẩu trang còn P thì nhận tiền từ những người mua khẩu trang chuyển ến qua tài khoản mang tên Đặng Thị H2 Thu rồi chuyển lại cho Q. Sau ó Lê M1 T i mua 02 sim iện thoại di ộng, sim số xxxxxxxxxx lắp vào chiếc iện thoại Nokia 1280 của T và sim số xxxxxxxxxx lắp vào chiếc iện thoại Nokia 105 của Q ể thực hiện hành vi lừa ảo. Bằng thủ oạn trên, Q, T, P ã lừa ảo chiếm oạt tài sản của chị Nguyễn Thị Tn (sinh năm 1984, trú tại phường Thạch Linh, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh), cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Ngày 02/02/2020, Lê Tn M1 Q lập tài khoản Facebook tên “Mai Linh Hoàng” rồi tải hình khẩu trang trên mạng và ăng tin: “Khẩu trang 4 l p kháng khuẩn, giá sỉ 35k/hộp, ai cần ib riêng em” (nghĩa là bán khẩu trang 35.000 ồng/1 hộp, ai cần mua thì nhắn tin v i Q). Vào khoảng 10 giờ ngày 03/02/2020, chị Nguyễn Thị Tn sử dụng tài khoản Facebook “Tn Nguyen” nhắn tin cho Q ặt mua 500 hộp khẩu trang v i giá tiền là 17.500.000 ồng, mục ích là mua về ể bán lại cho người khác. Q yêu cầu chị Tn pH ặt cọc trư c 50% giá trị của ơn hàng thì sẽ chuyển khẩu trang cho chị Tn, khi hàng trên ường vận chuyển thì chị Tn pH chuyển số tiền còn lại cho Q. Q cung cấp cho chị Tn tài khoản số 0841000118725 ngân hàng Vietcombank mang tên Đặng Thị H2 Thu và chị Tn ã chuyển vào tài khoản mang tên Đặng Thị H2 Thu số tiền ặt cọc là 8.750.000 ồng.

- Lần thứ hai: Đến khoảng 14 giờ ngày 03/02/2020 chị Tn ặt mua tiếp 200 hộp khẩu trang v i giá tiền 7.000.000 ồng. Chị Tn chuyển vào tài khoản mang tên Đặng Thị H2 Thu số tiền ặt cọc là 3.500.000 ồng. Đến tối ngày 03/02/2020 chị Tn chuyển vào tài khoản mang tên Đặng Thị H2 Thu số tiền 11.750.000 ồng là tiền ặt mua khẩu trang còn chưa Tn toán và xin nợ 500.000 ồng sẽ Tn toán sau.

Ngoài ra trư c ó vào khoảng 15 giờ ngày 02/02/2020, chị Tn nhắn tin cho Q hỏi mua 40 hộp khẩu trang v i giá 1.400.000 ồng. Sau ó chị Tn ã 02 lần chuyển số tiền 1.450.000 ồng (gồm 1.400.000 ồng tiền mua khẩu trang và 50.000 ồng tiền phí vận chuyển) vào tài khoản mang tên Đặng Thị H2 Thu cho Q.

Quá trình lừa ảo, ể chị Tn tin tưởng, Q nói dối v i chị Tn là ã chuyển hàng cho chị Tn qua các xe ô tô khách. Sau ó Lê Tn M1 Q dùng số iện thoại xxxxxxxxxx óng giả làm chủ hàng, dùng số iện thoại xxxxxxxxxx óng giả chủ nhà xe thứ nhất nói dối là xe ang hỏng nên chưa chuyển ược khẩu trang. Còn T dùng số iện thoại xxxxxxxxxx óng giả làm chủ nhà xe thứ hai nói dối chị Tn là ang vận chuyển khẩu trang về cho chị Tn.

Như vậy chị Nguyễn Thị Tn ã 03 lần ặt mua tổng cộng 740 hộp khẩu trang và chuyển cho Lê Tn M1 Q, Lê M1 T, Lê Tn P tổng số tiền là 25.450.000 ồng.

Sau khi lừa ược chị Tn chuyển tiền, Lê Tn M1 Q và Lê M1 T khóa tài khoản Facebook, vứt sim iện thoại ể tránh việc chị Tn liên lạc. Sau ó Lê M1 T mượn của Nguyễn Đại V (sinh năm 2002, trú tại xã Triệu Thượng, huyện Triệu P, tỉnh Quảng Trị) 01 tài khoản ngân hàng Công thương Việt Nam mang tên Thái Thị S và mượn của Trần Đức Ánh (sinh năm 2004, trú tại xã Triệu Thượng, huyện Triệu P, tỉnh Quảng Trị) 01 tài khoản ngân hàng NN&PTNT Việt Nam mang tên Lê Thị H2 ể nhận tiền lừa ảo. Lê Tn P chuyển từ tài khoản mang tên Đặng Thị H2 Thu vào tài khoản mang tên Thái Thị S và Lê Thị H2 số tiền 23.500.000 ồng cho Lê Tn M1 Q, Lê M1 T còn 1.950.000 ồng P ược hưởng lợi. Lê Tn M1 Q hưởng lợi 22.000.000 ồng và chia cho Lê M1 T 1.500.000 ồng.

Về trách nhiệm dân sự: Lê Tn M1 Q, Lê Tn P, Lê M1 T ã tự nguyện ồi thường cho chị Nguyễn Thị Tn số tiền 25.450.000 ồng, nay chị Tn không yêu cầu ồi thường gì thêm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2020/HS-ST ngày 20/8/2020 của Tòa án nhân dân TP. Hà Tĩnh ã quyết ịnh:

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Tn M1 Q, Lê M1 T và Lê Tn P phạm tội “Lừa ảo chiếm oạt tài sản”.

Căn cứ iểm c khoản 3 iều 174; iểm g khoản 1 Điều 52; iểm b, s khoản 1, khoản 2 iều 51; Điều 54; khoản 6 Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt Lê Tn M1 Q 05 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án; Xử phạt Lê M1 T 04 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

Căn cứ iểm c khoản 3 iều 174; iểm g khoản 1 Điều 52; iểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Tn P 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

Sau khi tuyên án sơ thẩm bị cáo Lê Tn M1 Q, Lê Tn P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Bị cáo Lê M1 T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các ị cáo giữ nguyên kháng cáo, không yêu cầu làm rõ thêm tình tiết gì của vụ án, ồng ý v i tội danh mà Hội ồng xét xử sơ thẩm ã tuyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tại phiên tòa sau khi tóm tắt nội dung vụ án, ánh giá, phân tích tính chất mức ộ hành vi phạm tội của các ị cáo, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt ã ề nghị Hội ồng xét xử phúc thẩm áp dụng iểm b khoản 1 Điều 355, iểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS, chấp nhận kháng cáo của các ị cáo Q, P; chấp nhận một phần kháng cáo của ị cáo T, sửa ản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án ã ược tranh tụng tại phiên tòa, Hội ồng xét xử nhận ịnh như sau:

Về tố tụng:

Kháng cáo của các ị cáo trong hạn luật ịnh nên hợp lệ ược chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm ố ị cáo Lê Tn M1 Q vì lý do sức khoẻ không thể có mặt và ị cáo ề nghị HĐXX chấp nhận cho anh trai của ị cáo làm người ại diện hợp pháp tham gia tố tụng. Hội ồng xét xử xét thấy ề nghị của ị cáo là hợp pháp nên cần chấp nhận.

Về nội dung:

Quá trình iều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm các ị cáo hoàn toàn khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các ị cáo phù hợp v i các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp v i thời gian, ịa iểm phạm tội. Hội ồng xét xử có ủ cơ sở ể khẳng ịnh: Trong khoảng thời gian từ ngày 02 tháng 02 năm 2020 ến ngày 03 tháng 02 năm 2020, lợi dụng tình hình dịch ệnh viêm ường hô hấp cấp do chủng m i của vi rút Cô-rô-na gây ra (Covid-19) Lê Tn M1 Q, Lê M1 T và Lê Tn P ã sử dụng mạng xã hội Face ook ăng thông tin gian dối án khẩu trang y tế giá rẻ ể lừa ảo chiếm oạt tài sản, trong ó ã 02 lần chiếm oạt số tiền trên 2.000.000 ồng (gồm lần thứ 1 chiếm oạt 8.750.000 ồng, lần thứ 2 chiếm oạt 18.750.000 ồng) và 01 lần chiếm oạt số tiền 1.450.000 ồng của chị Nguyễn Thị Tn. Tổng giá trị tài sản chiếm oạt là 25.450.000 ồng. Lê Tn M1 Q hưởng lợi số tiền 22.000.000 ồng; Lê Tn P hưởng lợi số tiền 1.950.000 ồng; Lê M1 T hưởng lợi số tiền 1.500.000 ồng. Các ị cáo có ầy ủ năng lực trách nhiệm hình sự và ủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, ị cáo thực hiện hành vi v i lỗi cố ý. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm ã xét xử ị cáo Lê Tn M1 Q, Lê M1 T và Lê Tn P về tội "Lừa ảo chiếm oạt tài sản” theo quy ịnh tại Điều 174 BLHS là úng người, úng tội, úng pháp luật. Các ị cáo lợi dụng trong thời iểm dịch ệnh Covid-19 ể thực hiện hành vi phạm tội nên các ị cáo pH chịu tình tiết tăng nặng ịnh khung hình phạt "Lợi dụng thiên tai, dịch ệnh” ược quy ịnh tại iểm c khoản 3 Điều 174 BLHS.

Xét kháng cáo của các ị cáo:

Các ị cáo pH chịu tình tiết tăng nặng TNHS “Phạm tội 02 lần trở lên” quy ịnh tại iểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình iều tra và tại phiên tòa các ị cáo ều Thành khẩn khai áo; Tự nguyện ồi thường cho ị hại; Người ị hại có ơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các ị cáo. Do ó, cả a ị cáo ược hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy ịnh tại iểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Tn M1 Q có ố là người có công v i nư c ược tặng thưởng Huân Ch chiến sỹ vẻ vang hạng a; ị cáo Lê Tn P ã hoàn thành nghĩa vụ Q sự và ược xuất ngũ nên ị cáo Q và P ược hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy ịnh tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Tại thời iểm thực hiện hành vi phạm tội ị cáo Lê Tn M1 Q và Lê M1 T là người dư i 18 tuổi nên ược áp dụng các quy ịnh ối v i người dư i 18 tuổi phạm tội tại Ch XII BLHS.

Xét hành vi của các ị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những ã xâm phạm vào tài sản của người khác ược pháp luật ảo vệ; gây ức xúc trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu ến tình hình an ninh trật tự. Trong giai oạn cả nư c ang tích cực thực hiện các iện pháp phòng chống dịch ệnh thì cáo ị cáo lại lợi dụng hoàn cảnh thực hiện hành vi phạm tội ể trục lợi nhằm thỏa mãn nhu cầu của ản thân.

Tại phiên tòa phúc thẩm ị cáo Lê Tn M1 Q, Lê Tn P, Lê M1 T nộp ơn xin xem xét giảm nhẹ hình phạt vì các lý do: gia ình các ị cáo gặp khó khăn, ị thiệt hại nặng nề sau trận lũ lụt lịch sử xảy ra trên ịa àn tỉnh Quảng Trị vào tháng 10, 11 năm 2020. Mẹ của ị cáo Q ị ệnh mãn tính không có khả năng lao ộng, bị cáo Lê Tn P có công cứu nạn giúp ỡ người uối nư c trong trận lũ lụt và nhân dân tại ịa phương xin giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo.

Trên cơ sở xem xét một cách toàn diện về tính chất, mức ộ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ TNHS, HĐXX thấy rằng mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là tương xứng v i tính chất hành vi phạm tội của các ị cáo. Tuy nhiên, xét các ị cáo phạm tội lần ầu, có nhân thân tốt, tuổi ời còn trẻ nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; ị cáo P, T là những người chưa thành niên phạm tội; gia ình các ị cáo gặp khó khăn do hậu quả của trận lũ lụt vừa xảy ra tại ịa phương nên HĐXX thấy rằng cần giảm nhẹ cho các ị cáo một phần ể thể hiện tính khoan H2 của pháp luật như ề nghị của ại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, úng pháp luật. Vì vậy HĐXX chấp nhận kháng cáo của ị cáo Q, P; chấp nhận một phần kháng cáo của ị cáo T, sửa ản án sơ thẩm.

Về án phí: Kháng cáo ược chấp nhận nên các ị cáo không pH chịu án phí HSPT theo quy ịnh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ iểm khoản 1 Điều 355, iểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật TTHS,

Chấp nhận kháng cáo của ị cáo Lê Tn M1 Q, Lê Tn P; chấp nhận một phần kháng cáo của ị cáo Lê M1 T sửa ản án hình sự sơ thẩm số 64/2020/HS-ST ngày 20/8/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh về phần hình phạt.

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Tn M1 Q, Lê M1 T và Lê Tn P phạm tội “Lừa ảo chiếm oạt tài sản”.

Căn cứ iểm c khoản 3 iều 174; iểm g khoản 1 Điều 52; iểm b, s khoản 1, khoản 2 iều 51; Điều 54; khoản 6 Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự:

Xử phạt Lê Tn M1 Q 04 (bốn) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

Xử phạt Lê M1 T 3 ( a) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

Căn cứ iểm c khoản 3 iều 174; iểm g khoản 1 Điều 52; iểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Tn P 4 ( ốn) năm tù thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí Toà án các ị cáo không pH chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết ịnh khác của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ