- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trần Hoàng H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 155/2020/HS-PT Ngày: 23-12-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trinh.
Các Thẩm phán Bà Hà Thị Phương Thanh.
Ông Thiềm Quốc Khanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Cần - thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Xuân Lan - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14-12-2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 190/2020/TLPT-HS ngày 10-11-2020, đối với bị cáo Lê Trần Hoàng H, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 165/2020/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận K.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Trần Hoàng H; sinh ngày 26 tháng 11 năm 1973.
Nơi cư trú: - Phạm L, phường B, quận K, thành phố C.
- Phạm L, phường H, quận K, thành phố C.
- Nguyễn Văn Cừ, phường H, quận K, thành phố C.
Nghề nghiệp: Làm thuê, lái xe ôtô; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn C (chết) và bà: Trần Thị P; có vợ: Nguyễn Thị Kim V (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 20-02-2020, Trần Lê T (là nhân viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tổ chức sự kiện Đ) vận chuyển dàn nhạc cụ và âm thanh đến khách sạn K 1 – đường B, phường A, quận K, thành phố Cần Thơ. Tất cả để ngay tại sảnh đón khách của khách sạn, để chuẩn bị phục vụ cho đám cưới.
Khoảng 16 giờ, Lê Trần Hoàng H điều khiển xe ôtô, chở ông Trần Văn P đến khách sạn K 1, để dự tiệc. Trong khi chờ ông P ra về, H đi vào sảnh đón khách và nhìn thấy dàn âm thanh. H lén lút đến mở tủ, rồi lấy bộ điều chỉnh âm thanh DBX PA+V, mang ra xe ôtô, cất giấu. Sau khi liên lạc với Nguyễn Chí Công E, H điều khiển xe ôtô đến khu dân cư H– khu vực 5, phường H, quận R, bán bộ điều chỉnh âm thanh này cho Công E, với giá 1.500.000đ.
Khoảng 19 giờ, ngày 25-02-2020, T phát hiện đăng tin rao bán bộ điều chỉnh âm thanh này, trên Facebook, nên đã trình báo với Công an phường A.
Theo Kết luận định giá, bộ chỉnh âm thanh nói trên trị giá 7.000.000đ.
Cơ quan điều tra đã thu hồi bộ chỉnh âm thanh và đã cho Công ty Đ nhận lại.
Tại bản án số 165/2020/HS-ST ngày 24-9-2020, Tòa án nhân dân quận K đã áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Lê Trần Hoàng H 06 tháng tù.
Ngoài ra, còn có quyết định về án phí trong vụ án.
Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 07-10-2020, bị cáo nộp đơn kháng cáo, xin giảm mức hình phạt. Lý do: Chăm sóc mẹ già yếu bệnh tật. Bị cáo là lao động chính.
Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo, không có cung cấp thêm chứng cứ về các tình tiết mới.
Kiểm sát viên nhận định: bản án sơ thẩm đã tuyên có căn cứ và đúng pháp luật. Khi lượng hình Tòa án sơ thẩm đã có xem xét các tình tiết giảm nhẹ theo luật định cho bị cáo. Mức hình phạt đã tuyên đối với bị cáo là tương xứng, không thể cho hưởng án treo, nên đề nghị giữ nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm tuân thủ các quy định của Pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho những người tham gia tố tụng. Các chứng cứ tại hồ sơ đủ để kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như để giải quyết các vấn đề khác có liên quan.
Bị cáo là người làm thuê, có nhiệm vụ lái xe, chở ông chủ đến khách sạn K để dự tiệc. Trong lúc chờ đưa ông chủ về, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt bộ chỉnh âm thanh trong tủ, tại khu vực sảnh đón khách của khách sạn K 1. Giá trị tài sản chiếm đoạt tương đương 7.000.000đ.
Xét xử bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo thể hiện thái độ rất liều lĩnh, lười biếng lao động, coi thường thành quả lao động của người khác.
Không chấp nhận lời bào chữa, cho rằng động cơ phạm tội là do cần tiền để điều trị bệnh cho mẹ, bởi các lẽ như sau:
- Nếu thực sự cần tiền để điều trị bệnh, bị cáo có thể đến Hội Chữ thập đỏ hoặc Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo thành phố C, để tranh thủ lòng thiện nguyện, hảo tâm của các Mạnh thường quân.
- Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo cung cấp xác nhận của bệnh viện tim mạch thành phố C. Theo đó, mẹ của bi cáo nhập viện ngày 19-9-2020 với chẩn đoán ban đầu: Hở van ba lá và chóng mặt kịch phát (BL. 98). Trong khi bị cáo phạm tội ngày 20-02-2020.
Khi lượng hình Tòa án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Tuy nhiên áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không co căn cứ. Nên điều chỉnh lại cho phù hợp.
Tội phạm không chỉ gây thiệt hại về tài sản, mà còn gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội Đối với bị cáo cần áp dụng mức hình phạt cho nghiêm mới đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Mức hình phạt đã tuyên, đối với bị cáo, như vậy là tương xứng, nên giữ nguyên, như kết luận của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Lê Trần Hoàng H phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lê Trần Hoàng H 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt đầu chấp hành án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực thi hành.
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(ĐÃ KÝ)
| Nơi nhận: - VKSND TPCT; - Cơ quan tố tụng Q.K; - Bị cáo; - Lưu. | Nguyễn Văn Trinh |