- Tranh chấp gì? án hình sự — "BA - HS - Nguyễn Thành Trung - 174K1 - T8-2019 - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Tr phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 155/2019/HSST Ngày: 24/9/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Đức.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đào Thị Giang.
2. Bà Trần Thị Quỳnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đoàn Bích Thu – Thư ký Tòa án nhân
dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai:
Ông Phan Đăng Định - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 9 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 150/2019/HSST ngày 16 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2019, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thành Tr, sinh năm 1995; tại Đồng Nai; nơi cư trú: Xóm 3, xã HP, huyện HH, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: Ấp 5, xã AV, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới T: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1974 và bà Đào Thị Mỹ L, sinh năm 1975; có vợ tên Lê Thị G, sinh năm 1997 (Không đăng ký kết hôn); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giam ngày: 24/6/2019 (Có mặt).
- Bị hại: Ông Đặng Văn T, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Ấp Long Đức 1, xã Tam Phước, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Ngô Thị Biển, sinh năm 1984 (Có mặt)
2/ Ngô Tấn Lai, sinh năm 1979 (Vắng mặt).
Địa chỉ: B11/4A, Ấp 3A, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Đặng Văn T và Nguyễn Thành Tr là nhân viên bảo vệ tại Trung tâm thương mại The Viva ở ấp HB, xã GĐ, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Quá trình làm việc, Tr thường xuyên mượn xe mô tô biển số 68N1-236.03 hiệu Yamaha Sirius của ông T để đi lại. Vào ngày 16/4/2019, ông T cần tiền tiêu xài nên nhờ Tr đi cầm cố giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 68N1-236.03 để lấy 1.000.000đồng. Tr nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của ông T nên đến ngày 18/4/2019, tại nơi làm việc, Tr hỏi mượn xe của ông T để đi cầm cố giấy chứng nhận đăng ký xe dùm cho ông T. Ông T tin tưởng nên giao xe mô tô biển số 68N1-236.03 cho Tr mượn. Sau khi lấy được xe mô và giấy chứng nhận đăng ký xe của ông T, Tr bỏ trốn. Đến ngày 19/4/2019, Tr đến tiệm cầm đồ “Thịnh Phát 1” ở Quốc lộ 50, ấp 3A, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh đem cầm cố cả xe mô tô biển số 68N1-236.03 và giấy chứng nhận đăng ký xe với giá 7.000.000đồng và tiêu xài cá nhân hết.
Tại Bản kết luận đinh giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Trảng Bom ngày 21/5/2019 kết luận chiếc xe mô tô biển số 68N1-236.03 có giá trị định giá là 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng).
Về vật chứng vụ án: Xe mô tô biển số 68N1-236.03 do quá thời hạn cầm cố nên tiệm cầm đồ “Thịnh Phát 1” đã bán chiếc xe trên cho người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã truy tìm nhưng không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Đặng Văn T yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng), Nguyễn Thành Tr vẫn chưa bồi thường.
Đối với bà Ngô Thị B có hành vi cầm cố xe mô tô biển số 68N1-236.03 nhưng không biết xe mô tô trên là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom không xử lý đối với bà Biển. Đối với hành vi cầm cố xe mô tô biển số 68N1-236.03 thuộc quyền sở hữu của người khác mà không có giấy ủy quyền hợp lệ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã thông báo cho Công an huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh xử phạt hành chính theo quy định.
Tại Cáo trạng số: 166/CT-VKS-TB ngày 16/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành Tr về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Tr với mức án từ 08 (Tám) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Tr không nộp thêm tài liệu chứng cứ nào khác và đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo Tr không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, xét đã có đủ cơ sở để xác định: Vào ngày 18/4/2019, tại Trung tâm thương mại The Viva ở ấp HB, xã GĐ, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Nguyễn Thành Tr đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của ông Đặng Văn T 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 68N1-236.03 có giá trị 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng) và giấy đăng ký xe mô tô trên. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thành Tr phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử khi lượng hình cũng cần xem xét đến việc bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo để xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo Tr đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.0000đồng (Hai mươi triệu đồng) nên ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo. Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Đặng Văn T số tiền 20.000.0000đồng (Hai mươi triệu đồng)
. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Tr phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành Tr 01 (Một) năm tù, thời hạn tù T từ ngày 24/6/2019.
2. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Nguyễn Thành Tr phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Đặng Văn T số tiền là 20.000.0000đồng (Hai mươi triệu đồng).
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thi hành số tiền gốc nêu trên thì hàng tháng phải chịu mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền chậm trả.
3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Biển được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lai vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Trảng Bom; - Công an huyện Trảng Bom; - THADS huyện Trảng Bom; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Bá Đức |