vanban.org

Bản án 155/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 07/06/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ- NHNN ngày 15/5/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN Ban hành Quy chế phát hành, th…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ban an số: 155/2018/DS-ST
̉ ́
Ngày: 07/6/2018
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hoàng Sơn.

2. Ông Trần Công Quan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quốc Thiên Hương – Thư ký Tòa án, Tòa án

nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên tòa: Bà Trương Võ Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 11 xét xử sơ

thẩm công khai vụ án thụ lý số 237/2017/TLST-DS ngày 30/10/2017 về “Tranh

chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

26/2018/QĐXXST-DS ngày 24/4/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số

22/2018/QĐST-DS ngày 17/5/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; địa chỉ: Lầu 8, đường N, Phường M,

Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Trường T là người đại diện theo ủy

quyền (văn bản ủy quyền số: 1292/2017/UQ-TTT ngày 11/10/2017).

Ông T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1979;

Địa chỉ: đường B, Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh;

Bà T vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2017 của nguyên đơn và quá trình giải

quyết vụ án ông Phạm Trường T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình

bày:

Ngày 31/8/2011, Ngân hàng TMCP S (viết tắt là “Ngân hàng”) và bà

Nguyễn Ngọc T ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, theo đó, Ngân hàng cấp thẻ tín dụng cho bà Nguyễn Ngọc T với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2,15%/tháng (lãi trong hạn), lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 228.817.000 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày khởi kiện, bà T

đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 231.888.500 đồng. Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở nhưng bà T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Nguyễn Ngọc T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 26/9/2014 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ số dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 07/6/2018, bà Nguyễn Ngọc T còn nợ Ngân hàng số

tiền 229.179.849 đồng, trong đó, nợ gốc là 93.454.336 đồng, lãi quá hạn là 135.725.513 đồng. Nay Ngân hàng yêu cầu bà Nguyễn Ngọc T có trách nhiệm trả ngay cho Ngân hàng số tiền 229.179.849 đồng. Bà T còn phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 08/6/2018 cho đến khi trả dứt nợ vay theo mức lãi suất nợ quá hạn trên số nợ gốc quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 31/8/2011, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Ngân hàng chỉ cho cá nhân bà Nguyễn Ngọc T vay tiền, không liên quan

đến người khác, do đó Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân bà T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ nêu trên.

Tại phiên tòa, Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S do ông Phạm Trường T làm

đại diện có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, đồng thời ông T nộp bản tự khai xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Tòa án buộc bà Nguyễn Ngọc T phải thanh toán ngay số tiền còn nợ cho Ngân hàng tính đến ngày 07/6/2018 là 229.179.849 đồng, trong đó, nợ gốc là 9 3.454.336 đồng, lãi quá hạn là 135.725.513 đồng và tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 08/6/2018 cho đến khi bà T thanh toán xong toàn bộ khoản nợ trên số nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 31/8/2011, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S.

Bị đơn bà Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia

phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến về việc tuân

theo pháp luật như sau:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và

Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của

nguyên đơn. Bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem

xét tại phiên tòa, ý kiến của đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân Quâ ̣n 11 tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng

TMCP S khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Ngọc T trả số tiền còn nợ. Theo Kết quả xác

minh của Công an Phường 14, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị đơn bà

Nguyễn Ngọc T có hộ khẩu thường trú tại số đường B, Phường M, Quận N, Thành

phố Hồ Chí Minh đã bán nhà đi khỏi địa phương từ tháng 12/2011 đến nay, chưa

thông báo nơi cư trú hiện nay. Do đó, căn cứ vào Khoản 4 Điều 189 của Bộ luật Tố

tụng dân sự năm 2015 và Khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ- HĐTP ngày

05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét

thấy có đủ cơ sở xác định địa chỉ của bị đơn tại đơn khởi kiện là địa chỉ nơi cư trú

cuối cùng của bị đơn.

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1

Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ pháp luật là tranh chấp

hợp đồng vay tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11,

Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S do ông Phạm

Trường T làm đại diện có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Khoản 1 Điều

228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Bị đơn bà Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn

vắng mặt không rõ lý do, không có người đại diện tham gia phiên tòa. Căn cứ vào

Điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành

xét xử vắng mặt bị đơn. Bà Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến

Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng

nhưng bà T vắng mặt không rõ lý do cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ

cho Tòa án. Như vậy, bà T đã từ bỏ các quyền được pháp luật quy định. Tòa án căn

cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của

pháp luật.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

3.1 Đối với yêu cầu trả số tiền nợ gốc là 93.454.336 đồng:

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 31/8/2011 giữa

Ngân hàng và bà Nguyễn Ngọc T, Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở xác định bà T

được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng số 472075 – 1105 hạn mức tín dụng 100.000.000

đồng, sau khi cấp thẻ, bà T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 228.817.000

đồng, bà T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 231.888.500 đồng, lần cuối cùng

thanh toán vào ngày 25/6/2014, từ ngày 26/6/2014 bà T không thực hiện nghĩa vụ

trả nợ cho Ngân hàng.

Theo quy định tại Điều 91, Điều 93, Khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức

tín dụng năm 2010, Ngân hàng TMCP S là tổ chức tín dụng được quyền cấp tín

dụng dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng, Ngân hàng và bà T được quyền thỏa

thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng theo quy định của pháp luật. Đồng thời, theo

quy định tại Điều 19, Điều 22 của Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung

cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, bà T có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ, đúng hạn tiền vay và lãi phát sinh từ việc sử dụng thẻ theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ. Bà T đã thanh toán cho Ngân hàng được 231.888.500 đồng, còn nợ lại 93.454.336 đồng. Căn cứ vào Điều 2 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S, do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T thanh toán khoản tiền nợ gốc còn lại là 93.454.336 đồng là có căn cứ.

3.2 Đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi quá hạn tính từ ngày

26/9/2014 đến ngày 07/6/2018 là 135.725.513 đồng:

Căn cứ vào Điểm c Khoản 4 Điều 13 và Điều 20 của Thông tư số

39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng thì: “Tổ chức tín dụng chuyển nợ quá hạn đối với số dư nợ gốc mà khách hàng không trả được nợ đúng hạn theo thỏa thuận và không được tổ chức tín dụng chấp thuận cơ cấu lại thời hạn trả nợ”.

“Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi

trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn”.

Ngày 26/6/2014, bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, đến ngày 26/9/2014,

Ngân hàng xác định bà T không trả nợ đúng hạn và số dư nợ gốc chuyển sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận tại Điều 23 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng là phù hợp quy định của pháp luật. Do đó, Ngân hàng yêu cầu bà T thanh toán số tiền lãi quá hạn tính từ ngày 26/9/2014 đến ngày 07/6/2018 với số tiền 135.725.513 đồng là có căn cứ.

Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở buộc bà Nguyễn Ngọc T có

trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 07/6/2018 là 229.179.849 đồng, trong đó, nợ gốc là 93.454.336 đồng, lãi quá hạn là 135.725.513 đồng và tiền lãi tiếp tục phát sinh trên số nợ gốc tính từ ngày 08/6/2018 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất nợ quá hạn được thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 31/8/2011 và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S với bà Nguyễn Ngọc T.

Ngân hàng TMCP S là tổ chức tín dụng có chức năng kinh doanh tiền tệ.

Việc bị đơn chậm thanh toán nợ như trên gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bà Nguyễn Ngọc T phải thanh toán toàn bộ khoản nợ trên một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng không phải chịu án phí và được

hoàn trả tiền tạm ứng án phí. Bà Nguyễn Ngọc T phải chi ̣u án phi trên số tiền phải

́ thanh toán cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1

Điều 40, Điều 147, Điều 186, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228,

Điều 238, 244, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào 471 và Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày

05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào Điều 19, Điều 22 Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và

cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số

20/2007/QĐ- NHNN ngày 15/5/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước;

Căn cứ vào Điểm c Khoản 4 Điều 13 và Điều 20 của Thông tư số

39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Quy định về hoạt

động cho vay của tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản

lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S về việc

yêu cầu bà Nguyễn Ngọc T trả nợ.

2. Buộc bà Nguyễn Ngọc T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền

còn nợ tính đến ngày 07/6/2018 là 229.179.849 đồng (Hai trăm hai mươi chín triệu

một trăm bảy mươi chín nghìn tám trăm bốn mươi chín đồng), trong đó nợ gốc là

93.454.336 đồng, nợ lãi quá hạn là 135.725.513 đồng. Trả một lần sau khi bản án

có hiệu lực pháp luật.

Bà Nguyễn Ngọc T có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi tiếp tục phát sinh trên số

nợ gốc tính từ ngày 08/6/2018 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi

suất nợ quá hạn được thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng

ngày 31/8/2011 và Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng

giữa Ngân hàng TMCP S với bà Nguyễn Ngọc T.

3. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại cơ

quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Ngọc T phải chịu án phí là 11.458.992 đồng (Mười một triệu bốn

trăm năm mươi tám nghìn chín trăm chín mươi hai đồng).

Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.101.602

đồng (Năm triệu một trăm lẻ một nghìn sáu trăm lẻ hai đồng) theo Biên lai thu tạm

ứng án phí, lệ phí Tòa án số AG/2014/0004601 ngày 27 tháng 10 năm 2017 của Chi

cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bi ̣ đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án

trong thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TANDTP. HCM;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND Quâ ̣n 11;

(Đã ký)

- Chi cục THADS Quâ ̣n 11;

- Các đương sự;

- Lưu: VT, HS.

Nguyễn Thanh Phúc

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Phúc TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 08 giờ 40 phút, ngày 07 tháng 6 năm 2018. Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.

Các Hô ̣i thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Công Quan;

2. Ông Nguyễn Hoàng Sơn.

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 237/2017/TLST-DS ngày 30

tháng 10 năm 2017 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; địa chỉ: Lầu 8, đường N, Phường M,

Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Trường T là người đại diện theo ủy

quyền (văn bản ủy quyền số: 1292/2017/UQ-TTT ngày 11/10/2017).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1979;

Địa chỉ: đường B, Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh;

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh

tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S về

việc yêu cầu bà Nguyễn Ngọc T trả nợ.

Các thành viên Hội đồng xét xử nhất trí biểu quyết 3/3.

2. Buộc bà Nguyễn Ngọc T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số

tiền còn nợ tính đến ngày 07/6/2018 là 229.179.849 đồng (Hai trăm hai mươi chín triệu một trăm bảy mươi chín nghìn tám trăm bốn mươi chín đồng), trong đó nợ gốc là 93.454.336 đồng, nợ lãi quá hạn là 135.725.513 đồng. Trả một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bà Nguyễn Ngọc T có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi tiếp tục phát sinh trên

số nợ gốc tính từ ngày 08/6/2018 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ theo mức

lãi suất nợ quá hạn được thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp

đồng ngày 31/8/2011 và Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ

tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S với bà Nguyễn Ngọc T.

Các thành viên Hội đồng xét xử nhất trí biểu quyết 3/3.

3. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại

cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Các thành viên Hội đồng xét xử nhất trí biểu quyết 3/3.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Ngọc T phải chịu án phí là 11.458.992 đồng (Mười một triệu

bốn trăm năm mươi tám nghìn chín trăm chín mươi hai đồng).

Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là

5.101.602 đồng (Năm triệu một trăm lẻ một nghìn sáu trăm lẻ hai đồng) theo

Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AG/2014/0004601 ngày 27 tháng

10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các thành viên Hội đồng xét xử nhất trí biểu quyết 3/3.

5. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bi ̣ đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án

trong thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết

theo quy định của pháp luật.

Các thành viên Hội đồng xét xử nhất trí biểu quyết 3/3.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành

án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện

thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và

9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30

Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Các thành viên Hội đồng xét xử nhất trí biểu quyết 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 00 phút, ngày 07 tháng 6 năm 2018.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử

cùng nghe và ký tên dưới đây.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ