vanban.org

Bản án 155/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Nam Tuyên án 25/07/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/07/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Đình chỉ xét xử phúc thẩm ối v i bị cáo Phạm Tấn T, phần hình phạt tại bản án hình sự s thẩm số 23 2017 HSST ngày 17 5 2017 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam ã c hiệu lực pháp luật.

2/ Không ch p nhận kháng cáo của bị cáo Lương Văn T, giữ nguyên bản án s thẩm về hình phạt. Áp dụng: iểm a khoản 2 Điều 135; iểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "các bị cáo Lương Văn T, Phạm Tấn T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? 1 Đình chỉ xét xử phúc thẩm ối v i bị cáo Phạm Tấn T, phần hình phạt tại bản án hình sự s thẩm số 23 2017 HSST ngày 17 5 2017 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam ã c hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2017/HSPT
Ngày 25/7/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Cẩm

- Các Thẩm phán:

Ông Bùi Xuân Liêm

Ông Nguyễn Quốc Thiện

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Việt Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 119 2017 HSPT ngày 29 tháng 6 năm 2017 ối v i các bị cáo Phạm T n T, Lư ng Văn T. Do c kháng cáo của các bị cáo ối v i bản án hình sự s thẩm số 23/2017 HSST, ngày 17 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam.

Các bị cáo c kháng cáo :

1/ Lương Văn T, sinh năm 1996; trú tại: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; Trình ộ văn h a: l p 9 12; nghề nghiệp: không; Con ông Lư ng Văn T, sinh năm 1972 và bà Võ Thị L, sinh năm 1972; sống chung như vợ chồng v i bà Bùi Thị Ánh L, sinh năm 1995 (không ăng kí kết hôn) và c 01 con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “C m i khỏi n i cư trú”; c mặt tại phiên tòa.

2/ Phạm Tấn T, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1999; trú tại: thôn A, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; trình ộ văn h a: l p 6 12; nghề nghiệp: không; con ông Phạm T n X, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1981; tiền án: không.

Tiền sự:

- Ngày 06 6 2016, bị Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 ồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 06 7 2016 bị Ủy ban nhân dân xã T ra quyết ịnh áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi “Nhiều lần c hành vi trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29 4 2017; c mặt tại phiên tòa.

- Người ại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm T n T: ông Phạm Tấn X, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1981; cùng trú tại: thôn A, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. C mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm T n T: Ông Trịnh Văn H, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nư c tỉnh Quảng Nam; c mặt.

Ngoài ra, còn c các bị cáo Nguyễn Thanh V, Phạm Đình P, Trần Duy T, Đoàn Văn B không c kháng cáo, không bị kháng nghị.

NHẬN THẤY:

Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N và bản án hình sự s thẩm của Tòa án nhân dân huyện N thì nội dung vụ án ược t m tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 03 tháng 11 năm 2016, sau khi nhậu xong, Nguyễn Thanh V, Phạm Đình P, Đoàn Văn B, Lư ng Văn T cùng v i Đặng Thị H và Võ Thị Thúy D rủ nhau xuống ường Biển R dạo ch i. Khi ến gần miếu ở thôn Đ xã T thì dừng lại nghỉ. Tại ây, D và Hsay nằm bên lề ường ngủ còn T, V, P và bàn v i nhau i kiếm tiền nhậu nhưng không ai chịu i. Sau , T n i v i cả nh m chặn xe tải i trên ường xin tiền nhậu và ược t t cả ồng ý. Một lúc sau, phát hiện xe ô tô biển số 92C-02194 do anh Bùi Tiến P iều khiển lưu hành trên ường ven biển hư ng B – D nên Tình dắt xe mô tô biển số 92N1-110.02 ra chắn ngang ường ể V, P, B i ến ứng dàn hàng ngang bên xe mô tô rồi ưa tay vẫy xe anh P dừng lại. Khi anh P dừng xe thì V nhảy lên bám vào cửa xe rồi e dọa anh P ể xin tiền. Do ban êm trời tối, ường vắng và sợ bị ánh nên anh P ưa cho V số tiền 30.000 . Việt nhận tiền xong nhảy xuống ể cho anh P i. Bằng thủ oạn tư ng tự, trong êm ngày 03 tháng 11 năm 2016, V, P, B, T ã chặn ược thêm 03 ến 04 xe ô tô khác và chiếm oạt ược 200.000 nhưng ến nay chưa xác ịnh ược người bị hại.

Tối ngày 13 tháng 11 năm 2016, sau khi nhậu xong, Nguyễn Thanh V rủ Phạm Đình P xuống ường ven biển thuộc thôn Đ, xã T ể chặn xe tải xin tiền thì P ồng ý. V iều khiển xe mô tô biển số 92N1-110.02 chở P i trên ường ven biển ến gần miếu thờ thì dừng lại ngồi chờ. Khi th y xe ô tô tài chở dăm gỗ chạy theo hư ng B – Dt thì V và P ra ứng giữ ường vẫy xe dừng lại. Khi xe dừng lại thì P ứng trư c xe còn V leo lên cửa ca bin e dọa yêu cầu lái xe ưa tiền, do ban êm trời tối và sợ bị ánh nên lái xe ưa cho V 50.000 . V i thủ oạn như trên, trong khoảng thời gian từ 18 giờ ến 19 giờ cùng ngày V và P ã chặn 03 xe tải ể e dọa lái xe yêu cầu ưa tiền và chiếm oạt ược 150.000 . Sau khi chiếm oạt ược tiền, V chở P ến tiệm internet “My friend” ở gần chợ C thì gặp Phạm T n T và Trần Duy T ang ch i ở ây nên V và P rủ T và T xuống ường ĐT 620 ể nhậu thì T và T ồng ý và cùng i xuống biển Rạng. Tại ây, V rủ T và T chặn xe tải xin tiền thì T và T ồng ý. Khoảng 10 phút sau, th y 01 xe ô tô tải chở dăm gỗ i theo hường quốc lộ 1A xuống biển Rạng nên V kêu cả nh m i bộ qua ường và ưa tay ra hiệu cho xe dừng lại. Khi xe dừng lại thì T, T và P ứng trư c ầu xe còn V leo lên bám bên cửa bên trái cabin xe dọa lái xe ưa tiền nên lái xe ưa 50.000 . Sau khi l y ược tiền, V l y xe máy i mua 03 lon bia ể cả nh m uống, trong lúc uống bia thì cả nh m tiếp tục chặn xe ô tô biển số 92C-080.00 do anh Hồ Xuân M iều khiển và chiếm oạt của anh M 50.000 . Lúc này Đoàn Văn B gọi iện thoại hỏi P ang ở âu thì P chỉ ịa iểm cho B, khoảng 30 phút sau B chở theo Đoàn Văn H chạy ến c mang theo một g i thức ăn. Th y B và H ến nên V i mua chai rượu về ể cùng uống. Được một lúc thì H về trư c, V kể chuyện chặn xe xin tiền cho B nghe và rủ B cùng tham gia thì B ồng ý. Một lúc sau thì th y c xe tải chở dăm gỗ i theo hư ng từ quốc lộ 1A xuống biển Rạng nên T, Ph, B, Việt, T i ra ường ưa tay ra hiệu cho xe dừng lại. Khi xe dừng lại thì B leo lên cửa cabin dọa lái xe ưa tiền nên lái xe ưa cho B 20.000 sau t t cả quay về chỗ nhậu. B gọi iện cho Nguyễn Hùng C ến nhậu, nhậu khoảng 5 phút thì T về tiệm internet l y quần áo còn V, T, P, B, C vẫn tiếp tục nhậu, ang nhậu thì th y xe ô tô biển số 60C-299.96 do anh Đoàn Duy T iều khiển i theo hư ng quốc lộ 1A xuống biển Rạng nên P, B, V, T i ra n xe còn C vẫn ngồi nhậu. Khi chặn xe dừng lại thì P, B ứng trư c ầu xe còn V leo lên bám vào cửa cabin dọa anh T ưa tiền, anh T chuẩn bị ưa số tiền 30.000 cho V thì bị Công an huyện N bắt quả tang.

Tại bản án hình sự s thẩm số 23 2017 HSST ngày 17 5 2017 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam ã quyết ịnh: Tuyên bố các bị cáo Lương Văn T, Phạm Tấn T phạm tội “Cưỡng oạt tài sản”.

- Áp dụng: iểm a khoản 2 Điều 135; iểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lương Văn T 18 (Mười tám) tháng tù; thời gian ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt i thi hành án.

- Áp dụng: iểm a khoản 2 Điều 135; iểm g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 69; Điều 74 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Tấn T 12 (Mười hai) tháng tù; thời gian ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 29 4 2017 ;

Ngoài ra, Tòa án c p s thẩm còn quyết ịnh về phần hình phạt ối v i các bị cáo Nguyễn Thanh Việt, Phạm Đình P, Đoàn Văn B và Trần Duy T, quyết ịnh về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 18/5/2017; ngày 24/5/2017 các bị cáo Lư ng Văn Tì và Phạm T n T c n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 25 5 2017, bị cáo Nguyễn Thanh V c

n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ến ngày 31 5 2017 bị cáo V ã c

n rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam ã c thông báo rút kháng cáo ối v i bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam c quan iểm về giải quyết vụ án: Lợi dụng êm tối, oạn ường ít người qua lại, sau khi bàn bạc, bị cáo Lư ng Văn T là người khởi xư ng, ã nhiều lần thực hiện hành vi chặn xe ô tô ang lưu thông trên ường, e dọa dùng vũ lực, chiếm oạt tiền của những người bị hại, nên bị Tòa án c p s thẩm kết án và xử phạt bị cáo Lư ng Văn T 18 tháng tù về tội “Cưỡng oạt tài sản” theo quy ịnh tại iểm a khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Hình sự là c căn cứ, úng pháp luật. Sau khi xét xử s thẩm, không phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự m i; ề nghị Hội ồng xét xử không ch p nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án s thẩm. Đối v i bị cáo Phạm T n Tu n c

n rút kháng cáo, ề nghị Hội ồng xét xử ình chỉ xét xử phúc thẩm theo quy ịnh tại khoản 2 Điều 238 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo Lư ng Văn T không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu ã ược thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên c sở xem xét ầy ủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa bị cáo Lư ng Văn Tì khai nhận: Vào khoảng 22 giờ 00 ngày 03 11 2016, sau khi uống rượu, bị cáo cùng v i Nguyễn Thanh V, Phạm Đình P, Đoàn Văn B chặn xe ô tô và e ọa buộc anh Bùi Tiến P phải ưa cho các bị cáo số tiền 30.000 ồng. Sau , các bị cáo ã tiếp tục thực hiện chặn 03 ến 04 xe khác, buộc lái xe ưa tiền và ã chiếm oạt ược số tiền 200.000 ồng. Tuy nhiên, bị cáo khai nại, ở lần phạm tội này (tối ngày 03 11 2016) bị cáo không phải là người khởi xư ng mà người khởi xư ng là Nguyễn Thanh V.

Xét lời khai nại của bị cáo Lư ng Văn T thì th y: Tại biên bản phiên tòa s thẩm ngày 17 5 2017 bị cáo ã khai nhận: Chính bị cáo là người khởi xư ng việc chặn xe xin tiền và là người trực tiếp dắt xe mô tô của bị cáo Phạm Đình P ra ường chặn xe ô tô của bị hại Bùi Tiến P. Sự thừa nhận này, phù hợp v i lời khai của các bị cáo Nguyễn Thanh V, Phạm Đình Phú “Bị cáo T là người khởi xướng việc chặn xe, xin tiền vào tối ngày 03/11/2016” là hoàn toàn c c sở và phù hợp v i nhận ịnh của Tòa án c p s thẩm về vai trò phạm tội của bị cáo trong vụ án nên khai nại của bị cáo Lư ng Văn T tại phiên tòa phúc thẩm không ược ch p nhận.

Căn cứ lời khai của những người bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ ã ược c quan iều tra chứng minh c tại hồ s vụ án; Hội ồng xét xử c ủ c sở kết luận: Các bị cáo trong vụ án ã c sự c u kết chặt chẽ, lợi dụng êm tối, oạn ường vắng người qua lại, cùng nhau thực hiện hành vi chặn xe ô tô lưu thông trên ường, e dọa dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần và nhiều lần chiếm oạt tiền của những người bị hại nên bản án hình sự s thẩm số 23 2017 HSST ngày 17 5 2017 của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam kết án bị cáo Lư ng Văn T và các ồng phạm về tội “Cưỡng oạt tài sản” theo quy ịnh tại iểm a khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Hình sự là c căn cứ, úng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo và việc xin hưởng án treo thì th y: Tòa án c p s thẩm ã ánh giá úng tính ch t, mức ộ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng úng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ược quy ịnh tại iểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, nhân thân và vai trò ể làm căn cứ xử phạt bị cáo Lư ng Văn Tình 18 tháng tù là phù hợp, mức án th p dư i khung hình phạt quy ịnh tại khoản 2 Điều 135 Bộ luật hình sự. Mặt dù bị cáo c nhân thân tốt, nhưng hành vi phạm tội c tổ chức, bị cáo giữ vai trò là người chủ mưu, cầm ầu nên Tòa án c p s thẩm không áp dụng Điều 60 Bộ luật hình sự ối v i bị cáo là c c sở. Tại phiên tòa phúc thẩm, không phát sinh tình tiết giảm nhẹ m i nên Hội ồng xét xử không ch p nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án s thẩm về hình phạt.

Đối v i bị cáo Phạm T n T c

n rút kháng cáo, Hội ồng xét xử ình chỉ xét xử phúc thẩm theo quy ịnh tại khoản 2 Điều 238 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các phần quyết ịnh khác của bản án s thẩm không c kháng cáo, kháng nghị ã c hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ khoản 2 Điều 238; iểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1 Đình chỉ xét xử phúc thẩm ối v i bị cáo Phạm Tấn T, phần hình phạt tại bản án hình sự s thẩm số 23 2017 HSST ngày 17 5 2017 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam ã c hiệu lực pháp luật.

2/ Không ch p nhận kháng cáo của bị cáo Lương Văn T, giữ nguyên bản án s thẩm về hình phạt.

Áp dụng: iểm a khoản 2 Điều 135; iểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Xử phạt: Bị cáo Lương Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; thời gian ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt i thi hành án.

Bị cáo Lư ng Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Phạm T n T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết ịnh khác của bản án s thẩm không c kháng cáo, kháng nghị ã c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 25/7/2017.

Cỡ chữ