- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: - Các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 155/2017/HNGĐ-ST Ngày 22-9-2017 V/v tranh chấp “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thƣ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Ho ng Th Thiện Lai.
2. Bà Đặng Th Kim Xuyến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đo n Thụy Th y Trang.
Trong ngày 22 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 156/2017/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2017 về việc tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2017/QĐXXST-HNGĐ, ngày 16 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Th P – Sinh năm 1980 (Có mặt).
Địa chỉ: Số 295, ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Anh Mai Văn P (D) – Sinh năm 1977 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số 295, ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.
Chỗ ở hiện nay: Ấp P 1, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai và các biên bản hòa giải nguyên đơn chị Nguyễn Thị P trình bày: Chị và anh P cưới nhau vào năm 1997, đến năm 2009 mới đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, hôn nhân do tự tìm hiểu và được cha mẹ đồng ý. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2002 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do chồng thường hay cờ bạc, uống rượu không lo làm ăn, chăm sóc vợ, con nên mâu thuẫn ngày càng nhiều đến tháng 3 âl. 2016 thì vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng là không còn sống chung cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn chị yêu cầu ly hôn với anh Mai Văn P. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Mai Thị Đ – Sinh ngày 15/02/1998 (đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết) và Mai Thị G – Sinh ngày 28/3/2002 (hiện đang sống cùng chị P). Khi ly hôn yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung. Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về quan hệ nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Mai Văn P được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh P vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và hòa giải được.
Tại phiên tòa chị P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết: Chị P và anh P kết hôn năm 1997, có đăng ký kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã Kiến An, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh P thường uống rượu, không lo làm ăn, nên chị P yêu cầu được ly hôn với anh P.
Xét thấy, chị P xác định không còn tình cảm với anh P, nếu buộc sống chung sẽ không duy trì hạnh phúc và mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, việc chị Phượng yêu cầu ly hôn là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
+ Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Mai Thị Đ, sinh ngày 15/02/1998 đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết, Mai Thị G, sinh ngày 28/3/2002 yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.
Xét thấy, từ khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn cháu G sống chung với chị P và có nguyện vọng sống tiếp tục với chị P. Để ổn định cuộc sống cho cháu nghĩ nên để chị P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu G. Do chị Pg không yêu cầu cấp dưỡng nên không đề cập đến.
+ Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về pháp luật tố tụng: [1] Chị Nguyễn Thị P xin ly hôn với anh Mai Văn P, anh P có nơi cư trú ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân năm 2015.
Anh Mai Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh P là có căn cứ.
- Về pháp luật nội dung: [2] Chị Nguyễn Thị P xin ly hôn với anh Mai Văn P. Chị P và anh P có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo chị P trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng thường hay phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chồng thường hay cờ bạc, uống rượu, không quan tâm gia đình, nên vợ chồng thường hay cãi nhau, vợ chồng mâu thuẫn ngày càng nhiều, đến tháng 3 âl. 2016 thì vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng là không còn sống chung cho đến nay. Tại biên bản xác minh ngày 15/8/2017 thì anh P là đối tượng thường hay cờ bạc tại địa phương, điều này phù hợp với lời trình bày của chị P. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về việc chị P xin ly hôn và triệu tập anh P tham gia các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng anh P vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của chị P. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị P và anh P đã diễn ra trong thời gian dài nguyên nhân chủ yếu là anh P thường hay cờ bạc, uống rượu, không quan tâm đến gia đình, thể hiện tình cảm vợ chồng giữa chị P và anh P đã mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu chung sống với nhau cũng không hạnh phúc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị P là phù hợp theo quy định pháp luật.
Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị P xác định vợ chồng có 02 con chung tên Mai Thị Đ – Sinh ngày 15/02/1998 (đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết) và Mai Thị G – Sinh ngày 28/3/2002 (hiện đang sống cùng chị P). Khi ly hôn chị P yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi vợ chồng không còn sống chung với nhau con chung do chị P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nên tâm tư tình cảm của cháu gắn liền với người nuôi dưỡng. Theo biên bản ghi nhận ý kiến ngày 28/4/2017 thì cháu G có nguyện vọng sống chung với mẹ và Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ thì chị P làm rẫy tại địa phương có thu nhập ổn định có điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu phát triển bình thường về thể chất lẫn tinh thần. Do đó, để chị P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu G là phù hợp pháp luật và nguyện vọng của con chung. Do chị P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về quan hệ nợ chung: Không có.
Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: - Các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị P đối với anh Mai Văn P (D).
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Mai Văn P (D).
- Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị P được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Mai Thị G – Sinh ngày 28/3/2002 (hiện đang sống cùng chị P). Anh Mai Văn P (D) không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Nguyễn Thị P cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Mai Văn P (D) trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về quan hệ t i sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận chị Nguyễn Thị P xác định không có nợ chung, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì chị Nguyễn Thị P và anh Mai Văn P (D) vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí hôn nhân v gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đã nộp theo biên lai thu số 0013765 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 10 tháng 4 năm 2017. Chị P đã nộp đủ.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh An Giang; -VKSND huyện Chợ Mới; -Chi cục THADS huyện Chợ Mới; -Các đương sự; -Lưu. | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Thƣ |