- Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "KDTM"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 3 Luật thương mại; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 1542/2022/KDTM - ST Ngày: 15/8/2022 V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thảo Trân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hồ Thị Lang
2. Bà Nguyễn Thanh Phước
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu Hà – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2022 tại Phòng xử án, trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 68/2022/TLST- KDTM ngày 14 tháng 01 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2022/QĐXXST – KDTM ngày 15 tháng 6 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 194/2022/QĐST – KDTM ngày 15 tháng 7 năm 2022, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 293A/2022/QĐXXST – KDTM ngày 15 tháng 7 năm 2022, giữa:
Nguyên đơn: Công ty CP Nghĩa Thành VĐ
Địa chỉ trụ sở chính: C3- 02.OT02, Central 3, Vinhomes Central Park số 720A Điện Biên Phủ, Phường 22, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tuấn Kiệt, chức danh: Giám đốc.
Chỗ ở hiện tại: T2, 03.01 Chung cư The Krista, phường Bình Trưng Đông, thành phố Thủ Đức.
Người đại diện ủy quyền: Ông Lã Văn H, sinh năm 1951
Địa chỉ: 212/327/9 Nguyễn Văn Nguyễn, phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Văn bản ủy quyền đề ngày 11/11/2021)
Bị đơn: Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H
Địa chỉ trụ sở chính: 155/8 đường 28, Phường 6, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Hồng Đ, chức danh: Tổng giám đốc
Thường trú: Thôn Trung An, xã Quế Trung, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Chỗ ở hiện tại: 155/8 đường 28, Phường 6, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn Công ty cổ phần Nghĩa Thành VĐ thì ngày 10/7/2020, Công ty cổ phần Nghĩa Thành VĐ với bị đơn Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H thỏa thuận ký Hợp đồng mua bán số 26/2020/HĐMB, có nội dung: Công ty cổ phần Nghĩa Thành VĐ cung cấp (bán) ngói SCG và sơn Mortar cho Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H tại công trình xây dựng Trung tâm kỹ thuật hướng nghiệp huyện Hóc Môn. Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty cổ phần Nghĩa Thành VĐ đã xuất 16 hóa đơn với số tổng số tiền là 191.742.303 đồng, các hóa đơn Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H đã ký nhận và không có ý kiến. Tính đến ngày 10/9/2020, thì Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H đã thanh toán cho Công ty cổ phần Nghĩa Thành VĐ số tiền 100.000.000 đồng. Ngày 31/12/2020, hai bên thực hiện đối chiếu công nợ, Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H xác định còn nợ Công ty cổ phần Nghĩa Thành VĐ số tiền là 91.742.303 đồng. Sau khi thực hiện việc đối chiếu công nợ, Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H không thanh toán cho bất cứ khoản tiền nào cho Công ty cổ phần Nghĩa Thành VĐ.
Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn thanh toán số tiền còn nợ là 91.743.303 đồng và lãi suất do chậm thanh toán tính ngày 01/01/2021 cho đến ngày xét xử sơ thẩm, tạm tính đến ngày 15/6/2022 là 20.642.243 đồng (lãi suất theo Ngân hàng Vietcombank) được hai bên thỏa thuận tại hợp đồng.
Nguyên đơn xác định từ khi ký hợp đồng Hợp đồng mua bán số 26/2020/HĐMB cho đến khi khởi kiện, nguyên đơn không nhận được bất kỳ thông báo nào từ phía bị đơn về sự thay đổi địa chỉ trụ sở chính của bị đơn hoặc nơi cư trú của người đại diện theo pháp luật của bị đơn.
* Nguyên đơn giao nộp các chứng cứ sau:
- Phiếu cung cấp thông tin đăng ký doanh nghiệp của doanh nghiệp ngày 26/11/2021 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh đối với Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H (bản chính);
- Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần đối với Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ (bản sao);
- Hợp đồng mua bán số 26/2020/HĐMB ngày 10/7/2020 giữa Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ với Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H (bản sao);
- Giấy ủy quyền giữa Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ với ông Lã Văn H ngày 11/11/2021 (bản chính);
- Căn cước công dân của ông Lã Văn H (bản sao);
- Hóa đơn giá trị gia tăng đơn vị bán hàng Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ (bản photo);
- Biên bản đối chiếu công nợ giữa Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ với Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H (bản photo).
Bị đơn – Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H: Vắng mặt. Từ khi thụ lý hồ sơ vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với bị đơn đến Tòa để giải quyết vụ án nH bị đơn đều vắng mặt. Tòa án đã tiến hành tống Đ các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật, nH bị đơn không có ý kiến phản hồi, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, không có yêu cầu phản tố.
* Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập:
- Văn bản trả lời xác minh của Công an xã Quế Trung, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam thì: Hiện nay ông Đoàn Hồng Đ, sinh năm 1974 có đăng ký HKTT tại thôn Trung An, xã Quế Trung, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, hiện nay ông Đ không có mặt tại địa phương, ông Đ đang làm ăn, sinh sống tại 155/8 đường 28, Phường 6, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Văn bản trả lời xác minh của Công an, Phường 6, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, có nội dung: Ông Đoàn Hồng Đ, sinh năm 1974 không thực tế cư trú tại địa chỉ 155/8 đường 28, Phường 6, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thông báo số 02/LSCV – VNĐ/VCBĐSG của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Sài Gòn về biểu lãi suất cho vay đồng Việt nam có hiệu lực ngày 08/6/2022.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Bị đơn Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt (Bị đơn không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hay vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên còn vi phạm về thời hạn xét xử.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ là 91.743.303 đồng và lãi suất do chậm thanh toán tạm tính từ ngày 01/01/2021 theo mức lãi suất đối với nợ vay quá hạn của Ngân hàng Vietcombank trên số tiền chậm thanh toán được thỏa thuận tại hợp đồng đến ngày xét xử làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Thẩm quyền của Tòa án: Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa đối với Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H. Đây là loại vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 5 của Hợp đồng mua bán số 26/2020/HĐMB ngày 10/7/2020 được ký kết giữa Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ với Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H, có nội dung: Mọi tranh chấp mà hai bên không thể tự giải quyết được thông qua hòa giải sẽ được đưa ra giải quyết tại Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền nơi có trụ sở của bên A (bên bán là Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ).
Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của nguyên đơn Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp có trụ sở chính tại số C3- 02.OT02, Central 3, Vinhomes Central Park số 720A Điện Biên Phủ, Phường 22, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa số 26/2020/HĐMB ngày 10/7/2020 được ký kết giữa Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ với Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H thì vụ án có quan hệ tranh chấp là tranh chấp về hợp đồng kinh tế được pháp luật quy định tại Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tư cách tham gia tố tụng:
Nguyên đơn là Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ ủy quyền hợp lệ cho ông Lã Văn H tham gia tố tụng, đúng quy định tại các Điều 138, 141 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 85, 86 Bộ luật tố Tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận. Ông H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do bận công việc, căn cứ a khoản 2 Điều 227 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn
Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H đã được Tòa án thực hiện việc tống Đ hợp lệ các văn bản tố tụng dân sự trong vụ án nH vẫn không đến Tòa để tham gia tố tụng, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hay vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có đơn yêu cầu phản tố. Nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung khởi kiện: Nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử buộc bị đơn thanh toán số tiền còn nợ là 91.743.303 đồng và lãi suất do chậm thanh toán tạm tính từ ngày 01/01/2021 đến ngày xét xử (lãi suất theo Ngân hàng Vietcombank x 150% được thỏa thuận tại hợp đồng) đồng làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật đối với Hợp đồng mua bán hàng hóa số 26/2020/HĐMB ngày 10/7/2020 được ký kết giữa Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ với Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về yêu cầu số tiền chưa thanh toán:
Xét thấy: Hợp đồng mua bán hàng hóa số 26/2020/HĐMB ngày 10/7/2020 được ký kết giữa Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ với Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H được ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật.
Căn cứ vào Biên bản đối chiếu công nợ giữa Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ với Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H ngày 31/12/2020 có nội dung tính đến ngày 31/12/2020, Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H còn nợ Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ số tiền 91.742.303 đồng.
Như vậy có đủ cơ sở xác định Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H còn chưa thanh toán cho Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ số tiền 91.742.303 đồng đối với Hợp đồng mua bán hàng hóa số 26/2020/HĐMB ngày 10/7/2020.
Do Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ sau khi Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ đã thực hiện xong phần nghĩa vụ của mình là vi phạm đến quyền và lợi lích hợp pháp Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ. Đồng thời, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống Đ văn bản tố tụng dân sự để Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định Pháp luật Tố tụng dân sự nH Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H không đến Tòa, không có văn bản trình bày ý kiến, yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ. Điều đó cho thấy Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình được pháp luật quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nên Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ có trách nhiệm trả số tiền 91.742.303 đồng làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, nghĩ nên chấp nhận cũng như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về yêu cầu tính lãi: Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ lãi suất do chậm thanh toán tạm tính từ ngày 01/01/2021 đến ngày xét xử (lãi suất theo Ngân hàng Vietcombank x 150% được thỏa thuận tại hợp đồng) đồng làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Xét: Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu thanh toán tiền lãi đối với số tiền chậm thanh toán là có căn cứ quy định tại Điều 297 Luật thương mại năm 2005.
Về thời điểm tính lãi: Căn cứ vào Biên bản đối chiếu công nợ ngày 31/12/2020 giữa Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ và Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H có cơ sơ để xác định thời điểm tính lãi bắt đầu từ ngày 01/01/2021.
Về lãi suất: Theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại năm 2005 “ Trong trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chạm trả đó. Theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Do trong hợp đồng hai bên có thỏa thuận về mức lãi suất chậm trả tiền theo mức lãi suất đối với nợ vay quá hạn của Ngân hàng Vietcombank trên số dư chậm trả tại thời điểm thanh toán. Theo kết quả trả lời của Ngân hàng Vietcombank – Chi nhánh Đông Sài Gòn thì lãi suất cho vay trung hạn, dài hạn thông thường là 10.8%/năm x 150% = 16,2%/năm là phù hợp quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 không vượt quá lãi suất giới hạn là 20%/năm nên có căn cứ chấp nhận.
Như vậy số tiền lãi mà Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H phải thanh toán cho Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán: 91.743.303 đồng x 16.2%/năm x 19 tháng 13 ngày = 24.068.855 đồng như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng cộng số tiền mà Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H phải thanh toán cho Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ là 91.743.303 đồng + 24.068.855 = 115.812.158 đồng.
Về án phí kinh doanh thương mại: Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 63, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 và khoản 8 Điều 3, Điều 24, Điều 50, Điều 55, Điều 292, Điều 306, Điều 319 của Luật thương mại 2005;
Căn cứ vào Luật Thi hành án Dân sự 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ tổng cộng số tiền là 115.812.158 đồng (trong đó nợ gốc là 91.743.303 đồng, nợ lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán là 24.068.855 đồng) làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật đối với Hợp đồng mua bán hàng hóa số 26/2020/HĐMB ngày 10/7/2020 được ký kết giữa Công ty CP Nghĩa Thành VĐ với Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành theo mức lãi suất được theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ Luật dân sự năm 2015.
2. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng H phải chịu án phí là 5.790.607 đồng.
Công ty Công ty Cổ phần Nghĩa Thành VĐ được nhận lại số tiền 2.638.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000459 ngày 12 tháng 01 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được Tòa án tống Đ hợp lệ bản án.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q. Bình Thanh ; - Chi cục THADS Q.Bình Thạnh; - Đương sự; - LưuVP/HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Thảo Trân |