- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh Châu lừa đảo chiếm đoạt tài sản người khác - lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự,
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 154/2026/HSPT Ngày: 02/07/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Quang Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Duy Thuấn; 2. Bà Nguyễn Thị Nhung. - Thư ký phiên toà: Bà Trương Thị Mai Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Ông Vương Chí Hiếu - Kiểm sát viên. Ngày 02 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 106/2026/TLPT-HS ngày 12/5/2026 đối với bị cáo Phạm Minh C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2026/HS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk. - Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên: Phạm Minh C, sinh ngày 06 tháng 5 năm 1971, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi thường trú: Tổ dân phố 19, phường Tân An, tỉnh Đắk Lắk; Nơi ở hiện nay: Buôn Kroa A, xã Cuôr Đăng, tỉnh Đắk Lắk; Căn cước công dân số: 066071003107 do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Khiển (đã chết) và bà Văn Thị Thúc (đã chết); Bị cáo có vợ Văn Thị Ngọc Linh (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 25/7/2011, bị Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án số 191/2011/HS-ST, đã xóa án tích. Ngày 31/8/2017, bị Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 258/2017/HS-PT, đã xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/10/2025 đến ngày 13/02/2026, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh.
- Bị hại: Ông Phan Hải Nam, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn Phú Đức 2, xã Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 05/4/2022, Phan Hải Nam, sinh năm 1984, trú tại Thôn Phú Đức 2, xã Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là tổ dân phố 5, thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk) bị Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2022/HS-ST. Sau khi bị Tòa tuyên án, Nam đi cùng Trương Thị Kim Ly, sinh năm 1987, trú tại buôn Trấp, xã Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là Buôn Trấp, thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk) đến nhà bị cáo Phạm Minh C, sinh năm 1971, trú tại Thôn 6, phường Tân An, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là Thôn 6, xã Hòa Thuận, thành phố Buôn Ma Thuật, tỉnh Đắk Lắk) để chơi. Tại đây, Nam nói với C việc Nam vừa bị Tòa kết án và cho rằng bản thân bị oan, muốn kháng cáo; C nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của Nam nên C đã đưa ra thông tin gian dối là C quen biết với những người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước sẽ liên hệ giúp Nam được Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tuyên vô tội thì Nam đồng ý. Từ ngày 10/4/2022, C nhiều lần sử dụng số điện thoại 0982138309 của C gọi đến số điện thoại 0981214545 của Nam để yêu cầu Nam chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng Agribank số 5201205109300 của C để thuê luật sư tham gia bào chữa cho Nam và liên hệ người khác giúp thì Nam đồng ý, sau đó Nam đã 04 lần nhờ Ly dùng tài khoản ngân hàng Agribank của Ly số 5204205291065 chuyển tổng cộng 60.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng nêu trên của C (những lần chuyển tiền đều ghi nhận trong sao kê tài khoản ngân hàng của Ly và C), cụ thể: Vào ngày 12/4/2022, C nói Nam đưa C số tiền 25.000.000 đồng để thuê luật sư tham gia bào chữa cho Nam nên Nam đã nhờ Ly chuyển số tiền 25.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của C. Vào ngày 13/4/2022, C nói Nam đưa thêm 10.000.000 đồng cho C để đưa cho người khác có chức vụ, quyền hạn trong việc giải quyết vụ án liên quan đến Nam nên Nam đã nhờ Ly chuyển số tiền 10.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của C. Vào ngày 14/4/2022, C nói Nam đưa thêm 20.000.000 đồng cho C để đưa cho người khác có chức vụ, quyền hạn trong việc giải quyết vụ án liên quan đến Nam nên Nam đã nhờ Ly chuyển số tiền 20.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của C.
Vào ngày 16/5/2022, C nói Nam đưa thêm 5.000.000 đồng cho C để đưa cho người khác có chức vụ, quyền hạn trong việc giải quyết vụ án liên quan đến Nam nên Nam đã nhờ Ly chuyển số tiền 5.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của C. Sau khi nhận được tiền, C đã chiếm đoạt tiền của Nam, không thực hiện thuê Luật sư và đưa cho người khác giúp Nam nên nào ngày 16/6/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, đã không chấp nhận kháng cáo của Nam, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2022/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk đã tuyên án đối với Nam. Đối với số tiền C nhận của Nam, do C đã rút khỏi tài khoản ngân hàng và sử dụng hết vào mục đích cá nhân nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ 03 đoạn Video ghi lại cuộc nói chuyện giữa Phạm Minh C, bà Trương Thị Kim Ly và Phan Hải Sang (do Phan Hải Sang cung cấp) nội dung liên quan đến sự việc. Quá trình làm việc, Phạm Minh C, bà Trương Thị Kim Ly và Phan Hải Sang thừa nhận lời thoại của bản thân trong các đoạn video. Ngày 26/5/2025, Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng ban hành Kết luận giám định số 323/KL-KTHS, thể hiện 03 đoạn video nêu trên không bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh và đã thực hiện dịch nội dung hội thoại. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2026/HSST ngày 30/3/2026 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk, đã quyết định: Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh C phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh C 02 (hai) năm tù, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 20/10/2025 đến ngày 13/02/2026. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và các đương sự theo quy định của pháp luật. Ngày 13/4/2026, bị cáo Phạm Minh C kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo. Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Minh C đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện cơ bản đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên. Quá trình tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, Đại điện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi, hậu quả của bị cáo và cho rằng:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phạm Minh C, phạm tội“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và có phần nghiêm khắc. Bị cáo đã cung cấp chứng cứ về lập công giúp Công an phường Tân An, tỉnh Đắk Lắk bắt được 04 đối tượng đang sử dụng trái phép chất ma tuý, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù, trừ thời gian bị bắt tạm giam từ ngày 20/10/2025 đến ngày 13/02/2026. Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Lời khai của bị cáo Phạm Minh C tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Do ý thức coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác, bị cáo Phạm Minh C mặc dù không có khả năng giúp được cho Phan Hải Nam, nhưng C đã đưa ra thông tin gian dối là có quen biết với luật sư, nhà báo và một số người trong các cơ quan tư pháp để chiếm đoạt tài sản của Nam. Trong thời gian từ ngày 12/4/2022 đến ngày 16/5/2022 C đã yêu cầu Nam chuyển tiền vào tài khoản của C 04 lần với tổng số tiền là 60.000.000 đồng. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Minh C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Phạm Minh C, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ (Quyết định kết nạp Hội cựu chiến binh Việt Nam; Quyết định về việc trợ cấp một lần của Quân khu 5) là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng thêm cho bị cáo; Tại cấp sơ thẩm bị cáo cung cấp Giấy xác nhận lập công do Công an Phường Tân An cấp, theo đó nội dung xác nhận cho bị cáo Phạm Minh C là đưa vào thông tin của bị cáo C Công an phường Tân An đã bắt được 04 đối tượng đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Xét thấy, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cấp sơ thẩm xác định đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là không đúng nên cấp phúc thẩm cần áp dụng thêm cho bị cáo. Tuy nhiên, mức hình phạt 02 năm tù mà cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. [3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. [4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Minh C; Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2026/HSST ngày 30/3/2026 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk. [2] Về điều luật áp dụng và mức hình phạt: Áp dụng khoản 2 Điều 174; điểm b, s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh C 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 20/10/2025 đến ngày 13/02/2026. [3] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Minh C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. [4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: - Toà PT TANDTC tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; - VP CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; - Phòng PV06 Công an tỉnh Đắk Lắk - TAND khu vực 5 - Đắk Lắk; - VKSND khu vực 5 - Đắk Lắk; - Phòng THADS khu vực 5; - Bị cáo; đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Quang |