- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp giữa chị T và anh T1"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Kiều T ly hôn với anh Lê Chí T1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 154/2026/HNGĐ-ST Ngày 15-4-2026 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Minh Út
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Xuân Minh
Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Linh là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.
Ngày 15 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2026/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2026 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 229/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Kiều T, sinh năm 1999 (xin vắng mặt)
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 15/01/2024.
Cư trú tại: Ấp R, xã T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Lê Chí T1, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Cư trú tại: Ấp T, xã S, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là chị Phạm Kiều T trình bày:
Về hôn nhân: Chị Phạm Kiều T và anh Lê Chí T1 tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau ngày 10/3/2025. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp dẫn đến thường xuyên cự cãi. Nay chị T yêu cầu ly hôn với anh T1.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên Lê Phạm Gia B (nam), sinh ngày 20/01/2025, hiện nay chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị T yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Lê Chí T1 đúng theo quy định pháp luật, nhưng anh T1 không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Ngày 12/3/2026, nguyên đơn chị Phạm Kiều T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đúng theo quy định pháp luật; bị đơn anh Lê Chí T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên xem như từ bỏ quyền của mình tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh T1.
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là xã S, tỉnh Cà Mau) ngày 10/3/2025 đúng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp và bảo vệ.
Xét yêu cầu ly hôn của chị T, thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án, anh T1 vắng mặt không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với chị T. Hiện nay chị T không còn tình cảm yêu thương anh T1 và quyết tâm mong muốn được ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Trường hợp chị T tiếp tục chung sống với anh T1 sẽ không mang lại hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T được ly hôn với anh T1.
Về con chung: Chị T và anh T1 có 01 người con chung tên Lê Phạm Gia B (nam), sinh ngày 20/01/2025, hiện nay chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị T yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, trong thời gian vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến nay. Hiện nay con chung còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi nên cần sự quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp của người mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét trên cơ sở điều kiện nuôi dưỡng con sau khi ly hôn của chị T và bảo đảm quyền lợi của con chung sau khi ly hôn nên cần giao cháu Lê Phạm Gia B cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T1 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị T không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của chị T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Kiều T ly hôn với anh Lê Chí T1.
2. Về con chung: Giao con chung tên Lê Phạm Gia B (nam), sinh ngày 20/01/2025 cho chị Phạm Kiều T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Anh Lê Chí T1 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Kiều T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Án phí sơ thẩm: Chị Phạm Kiều T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Ngày 24/02/2026, chị Phạm Kiều T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tại Biên lai số 0001888 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được chuyển thu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND khu vực 3 – Cà Mau; - Phòng THADS khu vực 3 – Cà Mau; - UBND xã S, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Dƣơng Minh Út |