- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phùng Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Bị cáo
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 154/2025/HSST Ngày: 11 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Minh Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Soan.
2. Ông Đỗ Ngọc Tân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thành Luân – Thư ký Tòa án nhân dân quận
Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Vũ Kim Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ
Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 111/2025/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 228/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 108/2025/QĐST-HS ngày 26/5/2025 và Quyết định 113/2025/QĐST-HS ngày 05/6/2025 đối với các bị cáo:
1. Phùng Văn T, sinh năm 1988 tại tỉnh Vĩnh Phúc; Địa chỉ thường trú: Tổ
dân phố C, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Phùng Văn T1, sinh năm 1958 và mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1960; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 25/10/2016 bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành Phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 409/2016/HSST; Ngày 22/9/2020 bị Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 240/2020/HSST. Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 25/11/2024 có mặt tại phiên tòa.
2. Đặng Ngọc Tường K, sinh năm 1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ
thường trú: Tổ dân phố L, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi ở hiện nay: Số E đường P, Phường G (Nay là Phường A), quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Đặng Quang H, sinh năm 1961 và mẹ: Võ Lan A, sinh năm 1971; Hoàn cảnh gia đình: Không có chồng, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty TNHH C. Địa chỉ: Số G đường T, phường T, Quận A,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần An B, sinh năm 1997. Địa chỉ: Số
D P, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Duy H1, sinh năm
1987. Địa chỉ: Số F đường S, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Các bị cáo, ông H1 có mặt tại phiên tòa; Ông B vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Phùng Văn T và Đặng Ngọc Tường K có quan hệ tình cảm với nhau. T là đối
tượng có nhiều tiền án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. T đến cửa hàng điện thoại (không nhớ rõ địa chỉ) gần nơi T ở để mua 01 sim điện thoại rác số 0965803872 với giá 200.000 đồng. T lên trang mạng xã hội Facebook tìm kiếm thông tin nhắm vào các cửa hàng bán điện thoại mới có giá trị cao, đời mới rồi T chọn cửa hàng mua bán điện thoại Di động V để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khoảng 19 giờ ngày 15/11/2024 T nhờ Đặng Ngọc T2 K chở T đến quán C1 địa chỉ số G đường P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây T gọi điện vào tổng đài của cửa hàng Di động Việt số 18006018 để đặt mua sản phẩm gồm:
- 01 (một) Apple Iphone 16 Promax 512GB - Titan trị giá 40.490.000 đồng
(Bốn mươi triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng).
- 02 (hai) cặp tai nghe Airpods Pro 2 Type C trị giá 5.490.000 đồng (Năm
triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng)/1 cặp tại nghe
- 02 (hai) cục sạc nhanh 35W Dual USB-C Apple trị giá 2.580.000 đồng (Hai
triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng).
- 01 (một) ốp lưng Iphone 16 promax uag plyo magsafe trị giá 1.836.000 đồng
(Một triệu tám trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
Tổng giá trị hóa đơn là: 55.886.000 đồng (Năm mươi lăm triệu tám trăm tám
mươi sáu nghìn đồng).
Tổng đài cửa hàng Di động V yêu cầu T đến cửa hàng nào để nhận sản phẩm,
T trả lời đang bận nên yêu cầu cửa hàng giao sản phẩm tại quán C1 địa chỉ số G đường P, Phường A, quận G. Khoảng 20 giờ 55 phút ngày 15/11/2024, anh Đinh Hoàng V1 là nhân viên của cửa hàng Di động V mang theo các sản phẩm đến quán cà phê Du M để giao cho T. Tại đây Thảo cầm lấy: 01 (một) Apple Iphone 16 Promax 512GB - Titan và 01 (một) tai nghe Airpods Pro 2 Type C rồi dùng thủ đoạn gian dối nói với anh V1 là để T mang vào phía bên trong quán cà phê đang tổ chức sự kiện cho khách bốc thăm trúng thưởng. Anh V1 nhìn thấy T ăn mặc quần áo lịch sự nên anh V1 không nghi ngờ và để Thảo cầm điện thoại cùng tai nghe rời đi. Sau khi chiếm đoạt được tài sản T gọi điện thoại cho K và bảo K lấy 01 bộ quần áo mang theo để cho T thay cho thoải mái. Khoảng 15 phút sau, K chạy xe Honda Future biển số 59Y2-422.56 đến đón T chở về nhà. Trên đường đi T ngồi phía sau rút sim điện thoại (sim rác) ném bỏ dọc đường để phi tang, riêng K chạy xe không biết việc T ném bỏ sim rác như thế nào.
Sau khi về tới nhà địa chỉ 56 đường P, T lấy hộp điện thoại và hộp đựng cặp
tai nghe ra thì K phát hiện nên có hỏi T là “điện thoại ở đâu đây?” thì T trả lời “mua trả góp”. Do K tiếp tục hỏi tới tấp về nguồn gốc tài sản thì T nói thật với K là: “Gọi người mang điện thoại đến để mua, giả bộ cầm ra để tổ chức sự kiện, bốc quà cho khách thì thằng giao hàng nó cho cầm, rồi lấy đi luôn” và thừa nhận việc chiếm đoạt tài sản của bị hại như trên. Lúc này K biết đây là tài sản do T chiếm đoạt của người khác nên K khuyên T đem trả lại điện thoại chủ tài sản nhưng T không đồng ý và bực tức chửi K.
Sau đó, trưa ngày 17/11/2024, T rủ K đi bán điện thoại cho người khác bên
quận T thì K đồng ý. Khi đến địa chỉ số A đường C, Phường A, quận T, K mang điện thoại Iphone 16 Promax 512GB-Titan bán cho anh Trương Duy H1 với giá 37.500.000 đồng vào tài khoản số 81988888888 ngân hàng Quân đội của T.
Sau đó, T đã sử dụng số tiền này vào mục đích tiêu xài cá nhân, cụ thể:
Vào lúc 11 giờ 42 phút ngày 17/11/2024, T đã mua trang sức tại cửa hàng P
(một) sợi dây chuyền vàng trắng 10K, 01 (một) mặt dây chuyền vàng trắng 10K (Thảo đeo trên người), 01 (một) nhẫn vàng trắng 10K (Thảo tặng cho K) tổng số tiền thanh toán là 24.923.260 đồng (Hai mươi bốn triệu chín trăm hai mươi ba nghìn hai trăm sáu mươi đồng).
Vào lúc 13 giờ 17 phút ngày 17/11/2024 ,T đã chuyển vào tài khoản LY THU
HONG số tiền 6.415.000 đồng (Sáu triệu bốn trăm mười lăm nghìn đồng) số tài khoản 40397527 (không nhớ ngân hàng) để trả nợ cho Phùng Xuân H2.
Vào lúc 00 giờ 48 phút ngày 19/11/2024 T đã chuyển vào tài khoản ĐANG
NGOC TUONG KHANH số tiền 2.832.000 đồng (Hai triệu tám trăm ba mươi hai nghìn đồng) số tài khoản 99899999996 tại ngân hàng T3 do Đặng Ngọc Tường K đứng tên chủ tài khoản.
Số tiền 3.329.740 đồng (Ba triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng) T giao dịch
chuyển khoản mua nhiều đồ vật, ăn uống nên không nhớ rõ cụ thể.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 266/KL-HĐĐGTS ngày 04/12/2024 của
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: 01 (một) Apple Iphone 16 Promax 512GB - Titan và 01 (một) tai nghe Airpods Pro 2 Type C đã qua sử dụng có tổng giá trị 45.646.667 đồng.
Vật chứng:
- 01 điện thoại Iphone 16 Promax, màu vàng cát, đã qua sử dụng (phương tiện
cá nhân của T).
- 01 xe máy biển số 59Y2-422.56 nhãn hiệu Honda Future; số máy
JC54E1022262; số khung RLHJC5355DY013687, đã qua sử dụng (phương tiện dùng để đi phạm tội).
- Tiền Việt Nam 2.832.000 đồng (hai triệu tám trăm ba mươi hai ngàn đồng)
(do khanh nộp lại).
- 01 túi đựng nữ trang có 06 (sáu) món nữ trang sức bằng kim loại vàng, có
đóng seal niêm phong PNJ 05793; đã được đóng niêm phong trong bì thư có chữ ký của Điều tra viên Vũ Hoài N và dấu mộc đỏ hình tròn của Cơ quan CSĐT Công an quận G.
- 01 áo sơ mi màu trắng, 01 áo khoác màu đen, 01 quần tây màu đen, 01 đôi
giầy màu đen, 01 mắt kính (là trang phục Thảo mặc khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản).
Tại bản cáo trạng số 126/CT-VKS-GV, ngày 17/3/2025 của Viện kiểm sát
nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Phùng Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 174 và truy bố bị cáo Đặng Ngọc Tường K về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp sau khi phân tích nội dung vụ
án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Các tình tiết tăng nặng TNHS: Không có.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo
ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 2 Điều 174; Điều 38
Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Phùng Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 03 tù về tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 323; Điều 38
Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc Tường K từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Hình phạt bổ sung: Không.
- Về vật chứng vụ án:
Đối với điện thoại Iphone 16 Promax là tài sản riêng của bị cáo T nên trả lại
cho bị cáo T.
Đối với 01 xe máy biển số 59Y2-422.56 nhãn hiệu Honda Future; số máy
JC54E1022262; số khung RLHJC5355DY013687 đề nghị đăng báo trong thời hạn 06 tháng để tìm chủ sở hữu, nếu không có ai đến nhận thì tịch thu sung quỹ.
Đối với số tiền 2.832.000 đồng và 01 túi đựng nữ trang có 06 (sáu) món nữ
trang sức bằng kim loại vàng, đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận của các bị cáo và ông H1.
Đối với 01 áo sơ mi màu trắng, 01 áo khoác màu đen, 01 quần tây màu đen,
01 đôi giầy màu đen, 01 mắt kính đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty TNHH C đã nhận lại tài sản và không
có yêu cầu gì thêm.
Đối với việc ông Trương Duy H1 yêu cầu bồi thường 37.500.000 đồng. Bị cáo
K đã bồi thường 15.000.000 đồng và các bị cáo, ông H1 thỏa thuận dùng số tiền 2.832.000 đồng và 01 túi đựng nữ trang có 06 (sáu) món nữ trang sức bằng kim loại vàng cấn trừ vào số tiền còn thiếu thì đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Qua ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát các bị cáo nhất trí và không có
ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp,
Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với Biên bản lời khai người bị
hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:
Vào khoảng 20 giờ 55 phút, ngày 15/11/2024 tại quán C1 địa chỉ số G đường
P, Phường A, quận G, T đã dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt 01 (một) Apple Iphone 16 Promax 512GB - Titan và 01 (một) tai nghe Airpods Pro 2 Type C đã qua sử dụng có tổng giá trị 45.646.667 đồng của anh Đinh Hoàng V1. Hành vi của T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Sau khi lừa đảo chiếm đoạt được điện thoại T nói cho Đặng Ngọc T2 Khanh
biết đây là tài sản do lừa đảo chiếm đoạt được và nhờ chở đi tiêu thụ bên quận T cho Trương Duy H1 thì K đồng ý. Sau đó dung số tiền phạm tội để mua cho K 01 nhẫn vàng tặng K và K đồng ý nhận. Hành vi của K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến
quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.
Đối với bị cáo T chỉ vì muốn có tiền để tiêu xài, phục vụ cho những nhu cầu
cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội hết sức táo bạo và liều lĩnh, với ý thức chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo đã dùng thủ đoạn tạo sự tin tưởng cho bị hại để chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 16 Promax, tai nghe Airpods Pro 2 Type C trị giá 45.646.667 đồng bất chấp hậu quả xảy ra, thể hiện ý thức bị cáo rất xem thường pháp luật.
Đối với bị cáo K, mặc dù biết tài sản tiêu thụ là tài sản do chiếm đọat của
người khác mà có, nhưng vì hám lợi nên bị cáo đã tiếp tay thực hiện việc tiêu thụ, lấy tiền đã chiếm đoạt để tiêu xài. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ hành vi của bị cáo đã tiếp tay tạo điều kiện thúc đẩy cho các đối tượng xấu trong xã hội thực hiện các hành vi phạm tội chiếm đọat tài sản của người khác.
Vì vậy, việc xử lý các bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và
phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, cần thiết phải có mức án thật nghiêm khắc tương xứng với tội lỗi của các bị cáo nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo trở thành người tốt hơn cho xã hội, sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác, đồng thời cũng nhằm để có tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho các bị cáo một số tình tiết:
Đối với bị cáo T, tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm
nay các bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo K phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thật
thà khai báo, thành khẩn nhận tội, đã khắc phục một phần hậu quả. Ngoài ra bị cáo K là lao động chính trong gia đình, một mình đang nuôi ba con nhỏ nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì
nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trương Duy H1 yêu cầu bị cáo
bồi thường số tiền 37.5000.000 đồng, đây là số tiền bị cáo bán điện thoại cho ông H1. Bị cáo K đã bồi thường cho ông H1 số tiền 15.000.000 đồng; bị cáo K, bị cáo T và ông H1 đồng ý thỏa thuận giao số tiền bị thu giữ và 06 (sáu) món nữ trang sức bằng kim loại vàng bị thu giữ của hai bị cáo để cấn trừ số tiền còn thiếu cho ông H1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của ông H1 và các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại Iphone 16 Promax, màu vàng cát là tài sản riêng của bị
cáo T nên trả lại cho bị cáo T.
Đối với 01 xe máy biển số 59Y2-422.56 nhãn hiệu Honda Future; số máy
JC54E1022262, số khung RLHJC5355DY013687. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu. Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu đối với tài sản đối với xe mô tô trên trong thời hạn 06 tháng. Nếu sau thời hạn 6 tháng kể từ ngày đăng báo mà không có ai đến nhận, thì tich thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền Việt Nam 2.832.000 đồng (hai triệu tám trăm ba mươi hai
ngàn đồng) và 01 túi đựng nữ trang có 06 (sáu) món nữ trang sức bằng kim loại vàng, có đóng seal niêm phong PNJ 05793; đã được đóng niêm phong trong bì thư có chữ ký của Điều tra viên Vũ Hoài N và dấu mộc đỏ hình tròn của Cơ quan CSĐT Công an quận Gò Vấp là tài sản của các bị cáo. Ghi nhận sự thỏa thuận của các bị cáo và ông H1. Giao lại toàn bộ cho ông Trương Duy H1.
Đối với 01 áo sơ mi màu trắng, 01 áo khoác màu đen, 01 quần tây màu đen,
01 đôi giày màu đen, 01 mắt kính (là trang phục Thảo mặc khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản) không có giá trị sử dụng, bị cáo không xin nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phùng Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Bị cáo
Đặng Ngọc Tường K phạm tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 2 Điều 174; Điều 38 của Bộ
luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Phùng Văn T 03 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2024.
Áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 323; Điều 65
Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc Tường K 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài
sản do người khác phạm tội mà có” nhưng có hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Phường A1, quận G, Thành phố Hồ Chí
Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại
khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019;
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Trả lại cho bị cáo Phùng Văn T 01 điện thoại Iphone 16 Promax, màu vàng
cát;
Đối với 01 xe máy biển số 59Y2-422.56 nhãn hiệu Honda Future; số máy
JC54E1022262, số khung RLHJC5355DY013687. Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu đối với tài sản đối với xe mô tô trên trong thời hạn 06 tháng. Nếu sau thời hạn 6 tháng kể từ ngày đăng báo mà không có ai đến nhận, thì tich thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Giao cho ông Trương Duy H1: Số tiền Việt Nam 2.832.000 đồng (hai triệu
tám trăm ba mươi hai ngàn đồng); 01 túi đựng nữ trang có 06 (sáu) món nữ trang sức bằng kim loại vàng, có đóng seal niêm phong PNJ 05793.
Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi màu trắng, 01 áo khoác màu đen, 01 quần tây
màu đen, 01 đôi giầy màu đen, 01 mắt kính.
Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 35/PNK ngày 07/02/2025 của Cơ quan
cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí
và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm
ngàn) đồng. Nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Các bị cáo, ông Trương Duy H1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15
ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TPHCM; - Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp; - Công an Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp; - Các bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Loan |