vanban.org

Bản án 154/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Xử phạt bị cáo Hồ Minh N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về Tội “Trộm cắp tài sản” . Thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2024.

2. Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HỒ MINH NAM phạm tội "TRỘM CẮP TÀI SẢN" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1. Xử phạt bị cáo Hồ Minh N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về Tội “Trộm cắp tài sản” . Thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2024.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 154/2025/HS-ST
Ngày: 27-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị Lang

2. Bà Nguyễn Thị Nhơn

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Tường Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lữ Phương Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025 tại phòng xử án - trụ sở Tòa án nhân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 117/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 161/2025/HSST-QĐ ngày 14/5/2025 đối với bị cáo:

1.Họ và tên: Hồ Minh N, tên gọi khác: không;

Sinh ngày: 02/04/1982, tại Thành phố Hồ Chí Minh

Hộ khẩu thường trú: Nhà số B Đường E, phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Minh M và bà Trần Thị Ngọc B; vợ, con: Không; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

Từ nhỏ đi học và sống cùng gia đình tại A Đ, Phường B quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;

Tiền án:

- Ngày 24/7/1997, bị Công an quận B bắt về hành vi trộm cắp tài sản, lập danh chỉ bản giải tỏa không xử lý.

- Ngày 13/4/1999, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 09 tháng tù giam về tội "Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân". Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/10/1999, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng vào năm 2009 (BL: 31)

- Ngày 15/02/2000, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 12 tháng tù giam về tội "Trộm cắp tài sản của công dân". Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/11/2000, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng vào năm 2001 (BL: 31)

- Ngày 04/7/2001, bị Toà án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 36 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/02/2004, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng vào năm 2009 (BL: 31)

- Ngày 24/8/2004, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy". Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2011. Riêng nghĩa vụ dân sự của Hồ Minh N chưa thi hành án phí Hình sự sơ thẩm 50.000 đồng.

- Ngày 30/5/2012, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 09 năm tù giam về tội "Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy".

Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/3/2019. Riêng phân nghĩa vụ dân sự phải nộp phạt 3.000.000 đông Nam chưa chấp hành xong.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 13/11/2024.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Người tham gia tố tụng khác:

Bị hại: ông Dương Tuấn T-có đơn xin vắng mặt

Địa chỉ: 2 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 00 ngày 11/8/2024, Hồ Minh N một mình điểu khiển xe mô tô biển kiểm soát 73L1 - 0337 đi đến trước công trình xây dựng địa chỉ số D X, Phường B, quận B thì trông thấy cửa bên hông công trình khép hờ nên N nảy sinh ý định trộm cắp. N dựng xe gắn máy ở đầu hẻm, rồi đi bộ đẩy cửa chui vào bên trong công trình lấy trộm 01 cuộn dây điện màu xanh, 01 máy tời, 01 máy lazer, 01 máy đánh hồ dầu, 01 máy cắt gạch mang ra để gần nơi xe máy N đã dựng sẵn định mang đi thì bị anh Nguyễn Thanh T1 phát hiện, anh T1 giữ chìa khóa xe không cho N đi, N và anh T1 giằng co qua lại, sau đó N bỏ chạy qua bên đường thì anh T1 đuổi theo và tri hô, anh Nguyễn Minh T2 nghe tiếng tri hô liền hỗ trợ anh T1 đuổi theo N vào đường D, đến trước số A đường D, phường B, quận B thì đã bắt được N và trình báo Công an P, quận B.

Tại cơ quan điều tra, Hồ Minh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Toàn bộ tài sản Hồ Minh N trộm cắp gồm 01 Máy Lazer Dekton DK-LSOS01 Plus màu xanh; 01 Máy cắt gạch Dekton DK-AG901R màu xám đen; 01 máy đánh hồ dầu màu đỏ (không rõ nhãn hiệu); 01 máy tời màu vàng có chữ "CE" không rõ nhãn hiệu; 01 Cuộn cuộn dây điện màu xanh, dài khoảng 34m, loại cáp 02 dây (tất cả đều đã qua sử dụng) thuộc sở hữu của anh Dương Tuấn T hiện là chủ thầu của công trình xây dựng tại nơi N thực hiện hành vi trộm cắp.

Kết luận định giá tài sản số 234/KLĐGTS-TCKH ngày 12/9/2024 của Ủy ban nhân dân quận B tổng tài sản Nam trộm cắp có giá 3.050.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 155/CT-VKSBTh ngày 03 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, đã truy tố các bị can Hồ Minh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

2. Tại phiên tòa,

Bị cáo Hồ Minh N khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu. Bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

2.1. Về tội danh:

Tuyên bị cáo Hồ Minh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2.2. Về hình phạt:

+ Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Hồ Minh N từ 03 năm đến 04 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2.3. Về các biện pháp tư pháp đối với người phạm tội và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tiếp tục đăng báo trong thời hạn 06 tháng 01 xe gắn máy biển số 73L1-0337; số máy E455122360; số khung: RLSBE4DJ070122360. Hết thời hạn 06 tháng nếu không có ai đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 Áo thun ngắn màu xám, 01 quần vải dài màu xám-đen ( sọc ca rô ).

2.5. Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại Dương Tấn T3 đã nhận lại các máy móc thiết bị của mình nên không có yêu cầu bồi thường về dân sự

2.6. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo qui định

3. Phần tranh luận,

Bị cáo Hồ Minh N không tham gia tranh luận.

4. Trong lời nói sau cùng

Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

.Về tố tụng.

Về sự vắng mặt của bị hại tại phiên tòa. Xét thấy, tại giai đoạn điều tra, bị hại đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử tại phiên tòa, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về tội danh:

Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Hồ Minh N tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi bị cáo Hồ Minh N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố đối với bị cáo. Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Hồ Minh N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 01 giờ 00 phút, ngày 11/8/2024, Hồ Minh N đã lén lút, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lẻn vào công trình đang xây dựng tại địa chỉ số D X, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện hành vi lấy cắp các thiết bị gồm 01 Máy Lazer Dekton DK-LS0501 Plus màu xanh; 01 Máy cắt gạch Dekton DK-AG901R màu xám đen; 01 máy đánh hồ dầu màu đỏ (không rõ nhãn hiệu); 01 máy tời màu vàng có chữ "CE" không rõ nhãn hiệu; 01 Cuộn cuộn dây điện màu xanh, dài khoảng 34m, loại cáp 02 dây (tất cả đều đã qua sử dụng) của anh Dương Tuấn T có giá trị 3.050.000 đồng thì bị bắt giữ.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 234/KLĐGTS-TCKH ngày 12/9/2024 của Ủy ban nhân dân quận B thì tài sản bị chiếm đoạt gồm 01 Máy Lazer Dekton DK-LS0501 Plus màu xanh; 01 Máy cắt gạch Dekton DK-AG901R màu xám đen; 01 máy đánh hồ dầu màu đỏ (không rõ nhãn hiệu); 01 máy tời màu vàng có chữ "CE" không rõ nhãn hiệu; 01 Cuộn cuộn dây điện màu xanh, dài khoảng 34m, loại cáp 02 dây (tất cả đều đã qua sử dụng) của anh Dương Tuấn T có giá trị 3.050.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội trộm cắp tài sản.

Với hành vi như đã nêu trên của bị cáo Hồ Minh N, xét thấy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở pháp lý, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức để nhận biết được hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 01 Máy Lazer Dekton DK-LS0501 Plus màu xanh; 01 Máy cắt gạch Dekton DK-AG901R màu xám đen; 01 máy đánh hồ dầu màu đỏ (không rõ nhãn hiệu); 01 máy tời màu vàng có chữ "CE" không rõ nhãn hiệu; 01 Cuộn cuộn dây điện màu xanh, dài khoảng 34m, loại cáp 02 dây (tất cả đều đã qua sử dụng), đây là hành vi mà pháp luật nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an ninh xã hội, gây hoang mang cho người dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, với mức án phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội, chấp hành pháp luật, đồng thời giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:

Bị cáo Hồ Minh N có nhân thân xấu. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 173, Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về các biện pháp tư pháp đối với người phạm tội và xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106, Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

+ - Tiếp tục đăng báo trong thời hạn 06 tháng 01 xe gắn máy biển số 73L1-0337; số máy E455122360; số khung: RLSBE4DJ070122360. Hết thời hạn 06 tháng nếu không có ai đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.

+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 Áo thun ngắn màu xám, 01 quần vải dài màu xám-đen ( sọc ca rô ).

. Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại: Dương Tấn T3 đã nhận lại các máy móc thiết bị của mình nên không có yêu cầu bồi thường về dân sự

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

1.1. Xử phạt bị cáo Hồ Minh N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về Tội “Trộm cắp tài sản” . Thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2024.

1.2. Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

- Tiếp tục đăng báo trong thời hạn 06 tháng 01 xe gắn máy biển số 73L1-0337; số máy E455122360; số khung: RLSBE4DJ070122360. Hết thời hạn 06 tháng nếu không có ai đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 Áo thun ngắn màu xám, 01 quần vải dài màu xám-đen ( sọc ca rô ).

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 4năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H với Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh)

4. Về án phí sơ thẩm:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Bị cáo Hồ Minh N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

Bị cáo Hồ Minh N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ