- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Cố ý gây thương tích"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 154/2025/HS-ST Ngày: 11-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHUVỰC 1 - TH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Bế Thiện
2. Ông Lê Văn Ninh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hùng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 1 - TH.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – TH tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đăng H3 - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2025 tại Hội trường Tòa án nhân dân khu vực 1 - TH xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 97/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn L, tên gọi khác: Không, sinh ngày 24/12/2002 tại TH; nơi cư trú: Xóm V, xã V, (trước ngày 01/7/2025 là xã V, huyện Đ), tỉnh TH; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; T2 độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trong hoạt động chính trị (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1982 và con bà Trần Thị H2, sinh năm 1982; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: 01. Tại bản án số 46/2019/HS-ST ngày 26-6-2019 Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh TH (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 – TH) xử phạt bị cáo 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Buôn bán hàng cấm”; nộp án phí ngày 13/8/2019.
Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh TH. Bị cáo bị bắt từ ngày 04/7/2025 cho đến nay (Có mặt)
* Bị hại: Anh Nguyễn Hồng D, sinh năm 1994; nơi cư trú: Xóm Q, xã P (trước sát nhập là xã Y, huyện Đ), tỉnh TH (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Hoàng Chí H, sinh năm 1985; nơi cư trú: Số x đường Phan Bội Châu, phường P, tỉnh TH (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bà Trần Thị H2, sinh năm 1982; nơi cư trú: Xóm V, xã V (trước sát nhập là xã V, huyện Đ), tỉnh TH (Có mặt).
* Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Xuân N, sinh năm 1995; nơi cư trú: Tổ x, phường L, tỉnh TH (Vắng mặt)
2. Anh Nguyễn T, sinh năm 1989; nơi cư trú: Xóm V, xã V, tỉnh TH (Vắng mặt).
3. Anh Ngô Bá T2, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ 11, phường T, tỉnh TH (Vắng mặt).
4. Anh Trần T4, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ 92, phường P, tỉnh TH (Vắng mặt).
5. Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1988; nơi cư trú: Xóm V, xã V, tỉnh TH (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 04/6/2024, Nguyễn Văn L cùng anh Nguyễn Văn H3 (sinh năm 1988, trú tại xóm V, xã V, tỉnh TH), anh Nguyễn T (sinh năm 1989, trú tại xóm V, xã V, tỉnh TH) và anh Nguyễn Hồng D (sinh năm 1994, trú tại xóm Q, xã P, tỉnh TH) đến quán bia “Dân chủ” thuộc tổ x, phường P, tỉnh TH để uống bia. Sau đó, anh H3 gọi Ngô Bá T2 (sinh năm 1986, trú tại tổ 11, phường T, tỉnh TH), Nguyễn T rủ thêm bạn là Trần T (sinh năm 1987, trú tại tổ 92, phường P, tỉnh TH) đến uống bia cùng. Khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, anh D nói chuyện với L sử dụng lời nói thô tục “Địt mẹ mày”, L có nói “Anh nói thì đừng có chửi địt mẹ em” thì D cầm cốc bia trên bàn hất bia vào mặt L. L bức xúc lấy tay phải cầm cốc bia bằng thủy tinh (cao 10cm, đường kính 12 cm loại cốc không có quai) trên bàn ném thẳng vào vùng mặt bên trái của D, khiến D rách da chảy máu. Sau đó L và D cầm bát nhựa ném về phía nhau nhưng không trúng. Mọi người có mặt can ngăn kéo D ra ngoài, còn giữ L ở bên trong quán bia. Lúc sau thấy L đi ra bên ngoài quán, D lao vào dùng tay phải đấm một phát vào vùng cổ bên trái của L, mọi người tiếp tục can ngăn rồi kéo L lên xe TAXI rời đi, anh D được H3 đưa vào Bệnh viện đa khoa Trung Ương TH điều trị.
Hậu quả: Anh Nguyễn Hồng D bị thương tích 01 vết thương chẩm trái KT (1x5) cm, 01 vết thương vùng thái D trái KT (0,5x2) cm, 01 vết thương mặt trước tai trái KT (5×4) cm và 01 vết thương vùng tai trái KT (0,5×2) cm.
* Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 499/KLTTCT-TTPY ngày 08/7/2024 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh TH đối với anh Nguyễn Hồng D, kết luận:
“1. Các kết luận chính:
− Gãy cung tiếp trái, tỷ lệ: 8%
Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật tày
− Sẹo trước tai trái, tỷ lệ: 3%
Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của có góc cạnh sắc
− Sẹo sau tai trái, tỷ lệ: 1%
Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật có góc cạnh sắc
− Sẹo chẩm trái, tỷ lệ: 1%
Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật có góc cạnh sắc
− Sẹo vành tai trái không co rút, tỷ lệ: 1%
Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật có góc cạnh sắc
− Cộng: 8% +3%+1%+1%+1% = 13,41% (Làm tròn số là 13%)
2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/TT -BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Hồng D tại thời điểm giám định là 13% (Mười ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tỷ lệ thông tư.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn L khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án: Lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản kết luận giám định thương tích.
Cáo trạng số 06/CT-VKSKV1 ngày 24/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - TH đã truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 04/6/2024 khi tham gia uống bia cùng với Nguyễn Văn H3, Nguyễn T, Ngô Bá T2, Trần T và anh Nguyễn Hồng D tại quán bia “Dân chủ” thuộc tổ 02, phường P, tỉnh TH. Khi nói chuyện với bị cáo, anh D có lời nói thô tục “Địt mẹ mày”, bị cáo có nói “Anh nói thì đừng có chửi địt mẹ em” thì D cầm cốc bia trên bàn hất bia vào mặt bị cáo. Do bức xúc nên bị cáo dùng tay phải cầm cốc bia bằng thủy tinh ném vào vùng mặt gần tai trái của D khiến anh D bị rách da, chảy máu. Sau đó bị cáo và D có cầm bát nhựa ném nhau nhưng không trúng. Mọi người can ngăn kéo anh D ra ngoài quán. Lúc sau khi đi ra ngoài quán thì D lao vào dùng tay phải đấm 01 phát vào vùng cổ bên trái bị cáo. Do lo sợ, bị cáo bỏ đi làm ăn xa, đến ngày 04/7/2025 bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã của Công an tỉnh TH.
Vật chứng vụ án:
+ 01 (một) cốc bia bằng thủy tinh, loại cốc không có quai không thu hồi được.
+ 01 USB chứa dữ liệu được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - TH sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về hình phạt chính: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo L 24 tháng đến 30 tháng tù.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong. Anh H chủ quán bia “Dân chủ” không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Không đề nghị HĐXX xem xét.
* Về vật chứng vụ án: 01 USB chứa dữ liệu được chuyển theo hồ sơ vụ án.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo là không oan, đúng người, đúng tội.
Phần lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản kết luận giám định thương tích và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 04/6/2024 tại quán bia “Dân chủ” thuộc tổ 02, phường P, tỉnh TH, Nguyễn Văn L có hành vi dùng tay phải cầm 01 cốc bia bằng thủy tinh (loại cốc dùng để uống bia, không có quai, cao khoảng 10cm, đường kính khoảng 12cm) ném vào vùng mặt bên trái gây thương tích cho anh Nguyễn Hồng D với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13% (Mười ba phần trăm).
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - TH đối với bị cáo đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
a, Dùng...hung khí nguy hiểm...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
a,b,....
đ, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.
Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.
Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, bản thân bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm của mình có ý thức tác động đến gia đình “bồi thường, khắc phục hậu quả”, bị cáo“phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, e, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử thấy: Sau khi phạm tội bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm, thực sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, việc xảy ra xô sát một phần có lỗi của bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về vật chứng vụ án:
+ 01 (một) chiếc cốc bằng thủy tinh dùng để uống bia không thu hồi được.
+ 01 USB chứa dữ liệu nội dung được lưu trong hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và gia đình bị cáo đã tự thỏa thuận và bồi thường xong, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản nào khác. Anh Hoàng Chí H không yêu cầu bị cáo bồi thường. Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với khoản tiền bồi thường cho bị hại, bà Trần Thị H2 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền bồi thường trên, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về các vấn đề khác:
+ Hành vi dùng tay của Nguyễn Hồng D đấm 01 phát vào vùng cổ bên trái của Nguyễn Văn L. Tuy nhiên L không có yêu cầu đề nghị gì nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh TH không xem xét xử lý.
+ Đối với hành vi L và anh D đánh nhau tại quán bia “Dân chủ”. Khi sự việc xảy ra trong quán chỉ có nhóm của L và D nên không ảnh hưởng trật tự công cộng. Do đó không có dấu hiệu “Gây rối trật tự công cộng”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh TH không xem xét xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Cố ý gây thương tích"
2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/7/2025.
Căn cứ vào Điều 329 BLTTHS: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kế từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TH; - VKSND tỉnh TH; - Công an tỉnh TH; - Sở tư pháp tỉnh TH; - Trại tạm giam số 1 - CA tỉnh TH; - VKSND khu vực 1- TH; - Cơ quan THADS tỉnh TH; - Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền; - Người tham gia tố tụng; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trương Thị Thanh Trúc |