vanban.org

Bản án 154/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 15/09/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Cháu Hương Q được ly hôn anh Trần Trung K.

Về án phí: Chị Cháu Hương Q phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005517 ngày 17/06/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh). Xác nhận ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Ban an HNGD giua chi Chau Huong Q va anh Tran Trung K"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Cháu Hương Q được ly hôn anh Trần Trung K.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 154/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 15-9-2025
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Lương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Kim Tuyến

Bà Nguyễn Thị Phú

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh không tham gia phiên toà.

Ngày 15 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 206/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 06 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về việc “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2025/QĐXX-ST ngày 28/4/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Cháu Hương Q, sinh ngày 08/12/1997 (vắng mặt)

Hộ chiếu: xxxxxxxx do lãnh sự quán Việt Nam tại Niu – oóc, Hoa Kỳ cấp ngày 12/05/2022

Hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ.

Chị Q ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1999; Nơi cư trú: xóm H, xã V, tỉnh Nghệ An

2. Bị đơn: Anh Trần Trung K, sinh ngày 03/6/1996 (vắng mặt)

Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx

Nơi cư trú: tổ dân phố T, xã L, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Cháu Hương Q trình bày:

Về hôn nhân: Trước khi kết hôn anh, chị được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn 05/4/2024 tại Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận nhưng đến tháng 6/2024 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên sống ly thân nhau từ đó đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian mâu thuẫn vợ chồng nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống, nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Trung K.

Về con chung: anh, chị không có con chung.

Về tài sản, công nợ chung: anh, chị không có công nợ, tài sản chung.

Bị đơn anh Trần Trung K trình bày:

Về hôn nhân: Về quá trình tìm hiểu đi đến hôn nhân, quá trình chung sống, quá trình mâu thuẫn của vợ chồng anh trình bày như chị Q. Nay, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn chị Q.

Về con chung: anh, chị không có con chung.

Về tài sản, công nợ chung: anh, chị không có công nợ, tài sản chung.

Tại phiên tòa, chị Q, anh K vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Q, anh K và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: chị Q khởi kiện xin ly hôn anh K. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về thẩm quyền giải quyết: chị Q là nguyên đơn hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ, anh K là bị đơn hiện đang cư trú tại tỉnh Bắc Ninh. Do đó, đây là vụ án có một bên đương sự ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

. Về việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh không tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy: Vụ án này Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh không tiến hành thu thập chứng cứ. Do vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh không tham gia phiên tòa là đúng quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Q và anh K kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 05/4/2024 tại Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh). Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Chị Q khởi kiện xin ly hôn anh K.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Q với anh K, Hội đồng xét xử thấy: Chị Q, anh K đều xác định anh, chị được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận. Tháng 6/2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nên sống ly thân nhau. Mặc dù trong thời gian mâu thuẫn anh, chị đã nhiều lần nói chuyện nhằm hàn gắn tình cảm nhưng không được. Đến nay anh, chị đều xác định vợ chồng đã ly thân một thời gian dài, tình cảm vợ chồng không còn, không mong muốn chung sống cùng nhau nữa. Do vậy, Hội đồng xác định anh K, chị Q không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Q với anh K là hoàn toàn phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: chị Q, anh K không có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

. Về tài sản chung, công nợ: chị Q, anh K không có tài sản chung, công nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Chị Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).

. Về quyền kháng cáo:

Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, anh K vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam có thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, chị Q đang cư trú tại nước ngoài không có mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo bản án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

1. Về hôn nhân: Chị Cháu Hương Q được ly hôn anh Trần Trung K.

2. Về án phí: Chị Cháu Hương Q phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005517 ngày 17/06/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh). Xác nhận chị Cháu Hương Q đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo bản án:

Chị Cháu Hương Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Anh Trần Trung K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ