- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Trương Thị Huỳnh L và anh Nguyễn Thanh S.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 154/2024/HNGĐ-ST Ngày 01 tháng 7 năm 2024 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Hoài Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: bà Dương Triết Minh và ông Trần Quang Thái.
Thư ký phiên tòa: bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 115/2024/TLST-HNGĐ ngày 29/3/2024 về “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 109/QĐST-HNGĐ ngày 14/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trương Thị Huỳnh L, sinh năm 1982.
Địa chỉ: tổ 6 ấp R, xã T, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1977
Địa chỉ: khóm T, thị trấn N, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Nguyên đơn chị L có đơn xin vắng mặt. Bị đơn anh S vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn chị Trương Thị Huỳnh L trình bày:
Chị với anh Nguyễn Thanh S chung sống với nhau từ năm chị 20 tuổi, không tổ chức đám cưới và cũng không đăng ký kết hôn. Từ khi bắt đầu sống chung với nhau đã không hạnh phúc nguyên nhân anh S rất khó khăn, thường xuyên ăn nhậu say xỉn đánh đập chị. Ngoài ra làm được bao nhiêu tiền anh S dùng vào việc ăn chơi (đánh bài, đá gà), có lúc gậy ra nợ nần chị phải trả thay. Chị còn phát hiện anh S có quan hệ với nhiều người phụ nữ khác. Chị đã cố gắng nhẫn nhịn và cho anh S nhiều cơ hội để thay đổi nhưng không có kết quả. Anh S còn hăm dọa nếu thấy chị đi với người đàn ông nào khác sẽ giết chị. Lo sợ ảnh hưởng đến tính mạng nên chị đã quyết định về nhà cha ruột sống, chị với anh S cũng chính thức ly thân khoảng 02 năm nay. Nay chị L yêu cầu như sau:
+ Về hôn nhân: chị Trương Thị Huỳnh L xin được ly hôn với anh Nguyễn Thanh S.
+ Về con chung: không có.
+ Về tài sản chung và nợ chung: không có.
- Bị đơn anh Nguyễn Thanh S: Tòa án đã tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh S nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay anh S vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị L.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời hạn chuẩn bị xét xử:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như: Xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý và giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Quá trình thụ lý Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ khi tiến hành lập hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt và niêm yết hợp lệ các thông báo và quyết định, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định của pháp luật.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn Trương Thị Huỳnh L đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn Nguyễn Thanh S chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 14, 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTCQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xử:
Về hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trương Thị Huỳnh L và ông Nguyễn Thanh S.
Về con chung: không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết.
Về án phí: bà Liên phải chịu 300.000 đòng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn. Bị đơn anh Nguyễn Thanh S có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khóm T, thị trấn N, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.
Nguyên đơn chị Trương Thị Huỳnh L có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Thanh S vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh chị Muội và anh S.
Về nội dung tranh chấp:
Chị Trương Thị Huỳnh L và anh Nguyễn Thanh S chung sống với nhau từ năm chị L 20 tuổi, không tổ chức đám cưới và đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Theo chị L. từ khi bắt đầu sống chung đã không hạnh phúc nguyên nhân do anh S thường xuyên ăn nhậu say xỉn đánh đập chị, làm được bao nhiêu tiền đều sử dụng vào ăn chơi, quan hệ bất chính với nhiều người phụ nữ khác. Chị L đã cố gắng chịu đựng để duy trì quan hệ vợ chồng nhưng không có kết quả, khoảng 02 năm trước chị L quyết định sống ly thân cho đến nay. Do tình cảm không còn, không quay lại sống chung với nhau được nữa nên chị L có đơn xin được ly hôn. Tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”. Tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định: “Trong trường hợp không có đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này”. Như vậy, mặc dù chị chị L và anh S đã chung sống với nhau một thời gian dài nhưng về mặt pháp luật không thừa nhận quan hệ giữa anh, chị là vợ chồng nên việc chị L yêu cầu ly hôn với anh S là không phù hợp mà cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị L và anh S.
Về quan hệ con chung: không có.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Từ những phân tích trên, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
Về án phí: chị L là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 điều 28, điều 35, điều 39, khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 điều 9, điều 14, khoản 2 điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Trương Thị Huỳnh L và anh Nguyễn Thanh S.
- Về quan hệ con chung: không có.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có. Tuy nhiên sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Trương Thị Huỳnh L và anh Nguyễn Thanh S phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
2. Về án phí: chị Trương Thị Huỳnh L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013711 ngày 27/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên đã nộp xong.
3. Về quyền kháng cáo: chị Trương Thị Huỳnh L và anh Nguyễn Thanh S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (thị trấn) nơi cư trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKS huyện Thoại Sơn; - Chi Cục THADS huyện Thoại Sơn; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Lâm |