vanban.org

Bản án 154/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 16/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Nguyễn D T và Nguyễn Hữu D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Tuyên bố Nguyễn Anh T1 phạm tội “Tiêu T4 tài sản do người khác phạm tội mà có”. * Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Nguyễn D T và Nguyễn Hữu D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ QUẾ VÕ
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 154/2023/HSST
Ngày: 16/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Minh Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Tuyến

Bà Nguyễn Thị Huệ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Thứ – Thư ký TAND thị xã Quế Võ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên toà: Ông Đoàn Xuân Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023, tại TAND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự T4 lý số: 163/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

1. Nguyễn D T, sinh năm 1995.

HKTT: thôn Xuân Dương, xã Kim Lũ, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn D Tuyên và bà Nguyễn Thị T4; có vợ là Trần Thị Hạnh và chưa có con; tiền sự: không.

- Tiền án:

+ Ngày 29/3/2018 bị TAND quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2020.

+ Ngày 10/5/2021 bị TAND huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/5/2022.

- Nhân thân: Ngày 28/3/2013 bị TAND quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/01/2014.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2023 đến nay. Có mặt.

2. Nguyễn Hữu D, sinh năm 2002.

HKTT: thôn Xuân Dương, xã Kim Lũ, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu Thỏa và bà Nguyễn Phương Đ; vợ, con: chưa có; tiền sự, nhân thân: không.

Tiền án: Ngày 28/9/2020 bị TAND quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 40 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2023.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2023 đến nay. Có mặt.

3. Nguyễn Anh T1, sinh năm 1999.

HKTT: thôn Xuân Dương, xã Kim Lũ, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn D Tuyên và bà Nguyễn Thị T4; vợ, con: chưa có; tiền sự, nhân thân: không.

Tiền án:

+ Ngày 13/11/2020 bị TAND thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Ngày 25/11/2020 bị TAND huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 bản án là 27 tháng tù. Chấp hành xong bản án ngày 04/6/2022.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/5/2023 đến nay. Có mặt.

- Bị hại:

1. Chị Lê Thị T2, sinh ngày 04/6/2005; Địa chỉ: thôn Vệ Xá, xã Đức Long, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

2. Anh Triệu Ỳ L, sinh năm 2001; Địa chỉ: thôn Lùng Lý, xã Xuân Minh, huyện Quang Bình, tỉnh Hà G. Vắng mặt.

3. Anh Hoàng Việt Tr, sinh năm 2002; Địa chỉ: Xóm Cài, xã Vũ Bình, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

4. Anh Nguyễn Hữu T3, sinh năm 2004; Địa chỉ: khu phố Lê Lợi, phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc G, tỉnh Bắc G. Vắng mặt.

5. Anh Nguyễn Đức G, sinh năm 1992; Địa chỉ: Khu 1, phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1972; Địa chỉ: thôn Xuân Dương, xã Kim Lũ, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Có mặt.

2. Bà Nguyễn Phương Đ, sinh năm 1962; Địa chỉ: thôn Xuân Dương, xã Kim Lũ, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn D T và Nguyễn Hữu D là bạn cùng thôn, do không có việc làm nên T rủ D đi trộm cắp xe mô tô đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trong thời gian từ ngày 21/3/2023 đến 05/5/2023 T và D đã thực hiện 05 vụ trộm cắp xe mô tô trên địa bàn thị xã Quế Võ và thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 16h30’ ngày 21/3/2023, T và D đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave của D (không lắp biển kiểm soát) đến phòng trọ của Trần Văn Hùng (là bạn quen biết ngoài xã hội của T) đang thuê trọ tại khu Mao Lại, phường Phượng Mao, thị xã Quế Võ chơi. Đến khoảng 19h00’ cùng ngày, sau khi ăn uống xong D điều khiển xe mô tô chở T đi về nhà. Khi D và T đi đến khu vực khu phố Từ Phong, phường Cách Bi, thị xã Quế Võ thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave @, BKS: 28N1-455.17 của anh Hoàng Việt Tr để tại khu vực vỉa hè không có người trông coi, nên T đi dến dùng tay luồn vào trong yếm trước rút hộp điện của xe mô tô rồi đấu điện trực tiếp thì mở được khóa điện của xe. Sau đó, T điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp cùng D đi về xã Kim Lũ, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 10h00' ngày 22/3/2023, T và D về nhà T. Tại nhà, T nhờ Nguyễn Anh T1 bán chiếc xe mô tô BKS: 28N1-455.17 vừa trộm cắp, T1 quan sát thấy xe mô tô không có chìa khóa vẫn mở được khóa điện, nên biết là xe trộm cắp nhưng vẫn đồng ý mang xe mô tô đi bán cho T, D. T1 đã dùng ứng dụng Zalo liên lạc và bán xe cho một người đàn ông không quen biết có tài khoản Zalo "meo meo" tại khu vực đê thôn Xuân Dương, xã Kim Lũ được số tiền 7.000.000 đồng. Số tiền bán xe T1 giữ lại 1.000.000 đồng và đưa cho T 6.000.000 đồng. Sau đó, T chia cho D 3.000.000 đồng. T1 bộ số tiền trên T, D, T1 đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 11/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Quế Võ kết luận: “Chiếc xe mô tô nhãn hiệu mô tô nhãn hiệu Honda Wave @, BKS: 28N1-455.17 tại thời điểm tháng 3/2023 trị giá 10.000.000 đồng”.

Vụ thứ hai: Khoảng 15h00’ ngày 29/04/2023, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave (không lắp biển kiểm soát) chở T tiếp tục trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha BKS 23E1-236.05 của anh Triệu Ỳ L để ở khu vực lề đường khu Lợ, phường Việt Hùng, thị xã Quế Võ. Đến ngày 30/4/2023 T liên hệ qua ứng dụng Zalo bán xe mô tô BKS: 23E1-236.05 cho người đàn ông không quen biết có tài khoản Zalo "meomeo" tại khu vực chân cầu Đại Phúc thuộc phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh được 8.000.000 đồng. Số tiền bán xe T chia cho D 4.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐ ĐGTS ngày 11/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Quế Võ kết luận: “Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Wave Alpha, BKS: 23E1 – 236.05 tại thời điểm tháng 4/2023 trị giá 14.000.000 đồng”.

Vụ thứ ba: Khoảng 12h00’ ngày 05/5/2023, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 88E1-155.82 chở T trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, không có biển kiểm soát của chị Lê Thị T2 để ở trước cửa hàng Nail-mi Ngô Thường thuộc thôn Thành Dền, xã Đào Viên, thị xã Quế Võ. Đến ngày 06/5/2023, T liên hệ qua mạng xã hội Zalo và bán chiếc xe trộm cắp được cho người đàn ông không quen biết có tài khoản Zalo "meomeo" tại khu vực chân cầu Đại Phúc thuộc phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh được 8.000.000 đồng. Số tiền bán xe T chia cho D 4.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 34 /KL-HĐ ĐGTS ngày 11/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Quế Võ kết luận: “Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Wave alpha, chưa đăng ký biển kiểm soát tại thời điểm tháng 5/2023 trị giá 15.000.000 đồng”.

Vụ thứ tư: Khoảng 18h00’ ngày 28/4/2023, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, không biển kiểm soát chở T trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, BKS 98B3 - 898.82 của anh Nguyễn Hữu T3 để ở khu vực đường Yết Kiêu, phường Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh. Đến ngày 29/4/2023, T liên hệ và bán chiếc xe trộm cắp được cho người đàn ông không quen biết có tài khoản zalo “meomeo” được 6.000.000 đồng. Số tiền bán xe T chia cho D 3.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐ ĐGTS ngày 24/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Quế Võ kết luận: “Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Wave Alpha, BKS: 98B3 - 898.82 tại thời điểm tháng 4/2023 trị giá 13.000.000 đồng”.

Vụ thứ năm: Khoảng 12h00’ ngày 30/04/2023, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không biển kiểm soát chở T đi trộm cắp tài sản. Khi phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 99G1-583.22 của anh Nguyễn Đức Gở để trước của nhà tại khu 1, phường Đại Phúc, TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh không có người trong giữ. T đi đến gần và sử dụng vam phá khóa bằng kim loại (loại hai cạnh) phá khóa xe mô tô trên rồi trộm cắp xe mô tô trên. Đến ngày 01/5/2023, T bán xe mô tô BKS: 99G1-583.22 cho người đàn ông không quen biết có tài khoản Zalo “meomeo” được 6.000.000 đồng. Số tiền bán xe T chia cho D 3.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐ ĐGTS ngày 24/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Quế Võ kết luận: “Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Wave, BKS: 99G1-583.22 tại thời điểm tháng 4/2023 trị giá 11.000.000 đồng”.

Với nội dung trên, bản Cáo trạng số: 126/CT-VKSQV ngày 25/7/2023 của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố Nguyễn D T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Hữu D về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Anh T1 về tội “Tiêu T4 tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận T1 bộ hành vi của mình như Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị HĐXX tuyên bố Nguyễn D T, Nguyễn Hữu D phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Nguyễn Anh T1 phạm tội “Tiêu T4 tài sản do người khác phạm tội mà có”, và đề nghị:

- Áp dụng điểm b, c, g khoản 2 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn D T từ 42-48 tháng tù.

- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Hữu D từ 38-44 tháng tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Anh T1 16-22 tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 tay công phá khóa, 02 đầu vam phá khóa, 01 biển kiểm soát 88E1-155.82, 01 mũ bào hiểm màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ.

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 Promax, 01 điện thoại Iphone 12 Promax và số tiền 1.000.000 đồng.

+ Lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB ghi lại hình ảnh T, D thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 05/5/2023.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì với đại diện VKSND thị xã Quế Võ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng và đầy đủ các hành vi, quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Trong khoảng thời gian từ ngày 21/3/2023 đến ngày 05/5/2023, Nguyễn D T và Nguyễn Hữu D đã 05 lần thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô trên địa bàn thị xã Quế Võ và thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, cụ thể như sau:

- Khoảng 19h00' ngày 21/3/2023 tại khu phố Từ Phong, phường Cách Bi, thị xã Quế Võ, T và D trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave @, BKS: 28N1-455.17 trị giá 10.000.000 đồng của anh Hoàng Việt Tr.

- Khoảng 18h00’ ngày 28/4/2023 tại đường Yết Kiêu, phường Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh, T và D trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, BKS: 98B3 - 898.82 trị giá 13.000.000 đồng của anh Nguyễn Hữu T3.

- Khoảng 15h00’ ngày 29/04/2023 tại khu phố Lợ, phường Việt Hùng, thị xã Quế Võ, T và D trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, BKS 23E1-236.05 trị giá 14.000.000 đồng của anh Triệu Ỳ L.

- Khoảng 12h00’ ngày 30/04/2023 tại Khu 1, phường Đại Phúc, TP Bắc Ninh, T và D trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 99G1-583.22 trị giá 11.000.000 đồng của anh Nguyễn Đức G.

- Khoảng 12h00’ ngày 05/5/2023, tại thôn Thành Dền, xã Đào Viên, thị xã Quế Võ, T và D trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, không có biển kiểm soát trị giá 15.000.000 đồng của chị Lê Thị T2.

T và D đã có 05 lần trộm cắp tài sản với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt được được là 63.000.000 đồng, nên hành vi của các bị cáo thuộc Tr hợp “Có tính chất chuyên nghiệp”. Ngoài ra, T đã có 02 tiền án đến nay chưa được xóa án tích, lần phạm tội này của bị cáo thuộc Tr hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó, hành vi của T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Còn hành vi của Nguyễn Hữu D đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố.

Nguyễn Anh T1 không hứa hẹn trước nhưng biết rõ chiếc xe mô tô BKS: 28N1-455.17 trị giá 10.000.000 đồng mà T nhờ bán hộ là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mang đi tiêu T4. Do đó, hành vi của T1 đã cấu thành tội “Tiêu T4 tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

T và D có 05 lần thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

D và T1 đều có tiền án đến nay chưa được xóa án tích, lần phạm tội này của các bị cáo thuộc Tr hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Sau khi phạm tội các bị cáo đều đã tự nguyện đầu thú, thành khẩn khai báo, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra T và D đã tự thú về hành vi trộm cắp xe của anh T3 và anh G; hai bị cáo còn tác động gia đình bồi thường T1 bộ thiệt hại cho các bị hại, và được các bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

T1 đã tác động gia đình nộp lại số tiền 1.000.000 đồng thu lợi bất chính nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét vai trò, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo:

Nguyễn D T và Nguyễn Hữu D đồng phạm với nhau, tuy nhiên hai bị cáo không có sự phân công, phân nhiệm cụ thể, trong đó T có vai trò chính, là đối tượng khởi xướng và trực tiếp thực hiện việc trộm cắp xe, còn D có vai trò giúp sức cho T. Hai bị cáo đều là những đối tượng có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng vẫn không lấy đó là bài học kinh nghiệm cho bản thân, tiếp tục lao vào con đường phạm tội, điều đó thể hiện T và D là những đối tượng rất manh động, coi thường pháp luật, nên cần có hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương xứng với với trò của mỗi bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Nguyễn Anh T1 là em trai của Nguyễn D T khi được T nhờ bán xe, mặc dù biết đây là tài sản do T phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý giúp T mang đi tiêu T4. T1 cũng có 02 lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, nhưng vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó cũng cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung: Do T, D và T1 đều là những đối tượng không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra gia đình T và D đã bồi thường T1 bộ thiệt hại cho các bị hại, đến nay các bị hại không yêu cầu T và D phải bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.

Về vật chứng:

+ Đối với 01 tay công phá khóa, 02 đầu vam phá khóa là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 biển kiểm soát 88E1-155.82, 01 mũ bào hiểm màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 điện thoại Iphone 11 Promax, 01 điện thoại Iphone 12 Promax là phương tiện dùng vào việc phạm tội và số tiền 1.000.000 đồng là số tiền thu lợi bất chính cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

+ Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, số khung RLHJA3929PY407818, số máy: JA39E3017661, lắp BKS: 88E1-155.82 (biển giả) quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Nguyễn Phương Thùy (là chị gái của D) cho D mượn làm phương tiện đi lại. Chị Thùy không biết việc D sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Quế Võ đã trả lại xe mô tô trên cho chị Thùy là phù hợp.

+ Đối với 01 USB do chị Lê Thị T2 giao nộp chứa video ghi lại hình ảnh T, D thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 05/5/2023 cần lưu theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với người đàn ông có tài khoản Zalo "meo meo" đã mua xe mô tô là tài sản trộm cắp của T1 và T. Quá trình điều tra, T1 và T không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người đàn ông đó nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố Nguyễn D T và Nguyễn Hữu D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Tuyên bố Nguyễn Anh T1 phạm tội “Tiêu T4 tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Áp dụng điểm b, c, g khoản 2 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn D T 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2023.

- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Hữu D 38 (ba mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2023.

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Anh T1 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2023.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Quyết định tạm giam T, D, T1 mỗi bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm việc thi hành án.

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 tay công phá khóa, 02 đầu vam phá khóa, 01 biển kiểm soát 88E1-155.82, 01 mũ bào hiểm màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ.

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 Promax, 01 điện thoại Iphone 12 Promax và số tiền 1.000.000 đồng.

(Các vật chứng trên theo Biên bản bàn giao vật chứng số 129 ngày 20/7/2023 giữa Công an thị xã Quế Võ với Chi cục THADS thị xã Quế Võ).

+ Lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB ghi lại hình ảnh T, D thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 05/5/2023.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: T, D, T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ