- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Ban an HNGD giua chi Pham Thi Thu H va anh Vu Tri D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thu H được ly hôn anh Vũ Trí Đ.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 154/2023/HNGĐ-ST Ngày: 07-7-2023 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Như Hiển
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Bích.
Ông Nguyễn Hồng Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2023/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2023/QĐ-ST ngày 01/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 108/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20/6/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thu H, sinh ngày 04/12/1998 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở hiện nay: thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
2. Bị đơn: Anh Vũ Trí Đ, sinh ngày 15/9/1997 (vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Hiện đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ.
Địa chỉ cuối cùng của anh Đ tại Việt Nam: thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Phạm Thị Thu H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn chị và anh Đ được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 18/10/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà anh Đ làm dâu và chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên vợ chồng thống nhất năm 2019 anh Đ đi lao động Hàn Quốc nhằm cải thiện kinh tế. Sau khi sang Hàn Quốc vợ chồng vẫn hòa thuận nhưng đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, đỉnh điểm là ngày 05/02/2021 nên chị cùng con về sinh sống cùng bố mẹ đẻ tại thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian thuẫn vợ chồng nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Kể từ tháng 8/2021 đến nay chị và anh Đ không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Trí Đ.
Về con chung: Chị và anh Đ có 01 con chung là cháu Vũ Phương A, sinh ngày 09/4/2019. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng chị. Sau khi ly hôn đề nghị giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Vũ Trí Đ là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Tại biên bản làm việc ngày 22/5/2023 và 01/6/2023, bà Phan Thị L là mẹ đẻ anh Vũ Trí Đ cung cấp anh Đ hiện nay đang đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Về hôn nhân của anh Đ, chị H bà cho biết: Anh, chị được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, chị H về nhà bà làm dâu và chung sống hòa thuận với gia đình nhà chồng. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên anh Đ đi lao động tại Hàn Quốc, sau khi anh Đ sang Hàn Quốc một thời gian thì thấy anh, chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo như anh, chị nói là bất đồng quan điểm sống, bà có khuyên bảo anh, chị bỏ qua mâu thuẫn để cùng chăm sóc, nuôi dưỡng con nhưng không được. Hiện nay chị H đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống cùng con chung. Anh, chị có 01 con chung là cháu Vũ Phương A, sinh ngày 09/4/2019. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng chị H tại gia đình bố mẹ đẻ chị H. Tài sản chung của anh, chị không có.
Ngoài ra bà cho biết: Trước khi đi lao động tại Hàn Quốc anh Đ sinh sống cùng bà tại thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi sang Hàn Quốc anh Đ vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Bà đã thông báo cho anh Đ biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án xin ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị Phạm Thị Thu H và anh Vũ Trí Đ thì anh Đ cho biết: anh đồng ý ly hôn với chị H nhưng anh Đ không cung cấp địa chỉ nơi làm việc, nơi ở và ý kiến bằng văn bản cho Tòa án được. Anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, chị Phạm Thị Thu H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Vũ Trí Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Phạm Thị Thu H; Biên bản làm việc với mẹ đẻ của anh Vũ Trí Đ và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thu H. Xử;
Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị Thu H được ly hôn anh Vũ Trí Đ.
Về con chung: Do anh Đ hiện nay đang lao động tại nước ngoài nên không đảm bảo nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Vũ Phương A, sinh ngày 09/4/2019 cho chị Phạm Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản, công nợ chung: Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Phạm Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị H khởi kiện xin ly hôn anh Đ và đề nghị giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về thẩm quyền giải quyết: Theo Công văn trả lời số 13069/QLXNC-P5 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh ngày 30/5/2023 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an cung cấp, anh Đ xuất cảnh gần nhất ngày 28/11/2022, hiện chưa có thông tin nhập. Do đó, anh Đ được xác định là đang ở nước ngoài. Mặt khác, anh Đ là bị đơn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Vì vậy, đây là vụ án có một bên đương sự ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về sự vắng mặt của đương sự:
Về sự vắng mặt của nguyên đơn: chị Phạm Thị Thu H là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Phạm Thị Thu H.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Căn cứ theo lời khai của nguyên đơn và mẹ đẻ anh Đ, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú cuối cùng của anh Đ trước khi xuất cảnh lần gần nhất là thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cần tống đạt cho anh Đ thông qua gia đình. Gia đình anh Đ cho biết anh Đ vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh Đ không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh Đ tại Hàn Quốc. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thu H và anh Vũ Trí Đ kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 18/10/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Vũ Trí Đ.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị Thu H với anh Vũ Trí Đ, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị H, anh Đ chung sống hòa thuận. Nhưng từ tháng 8/2021 đến nay vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên không còn liên lạc, quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Mặc dù trong thời gian mâu thuẫn anh, chị đã chủ động nói chuyện để hàn gắn tình cảm nhưng không được. Khi hai bên gia đình biết chuyện có khuyên bảo những cũng không được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng chị H, anh Đ không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Chị H với anh Đ là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
. Về nuôi con chung: Chị H và anh Đ có 01 con chung là cháu Vũ Phương A, sinh ngày 09/4/2019. Hiện nay con chung đang sinh sống cùng chị H và do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn chị H đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp chắm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Xét yêu cầu nuôi con chung của chị H: Hội đồng xét xử thấy hiện nay anh Đ đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Mặt khác, từ khi anh Đ đi lao động tại nước ngoài cho đến nay chị H vẫn là người trực triếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung, con chung phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giao con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn là phù hợp với thực tế, phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa
Sau khi ly hôn anh Vũ Trí Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Đ thực hiện quyền này.
Trường hợp anh Vũ Trí Đ về nước sinh sống, có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về tài sản, công nợ chung: Do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Chị Phạm Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
. Về quyền kháng cáo:
Chị Phạm Thị Thu H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Vũ Trí Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thu H được ly hôn anh Vũ Trí Đ.
2. Về con chung: Giao cháu Vũ Phương A, sinh ngày 09/4/2019 cho chị Phạm Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, anh Vũ Trí Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở anh Đ thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Chị Phạm Thị Thu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000085 ngày 05/5/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Phạm Thị Thu H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Phạm Thị Thu H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Anh Vũ Trí Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh Bắc Giang; -Cục THADS tỉnh Bắc Giang; -UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; -Cổng thông tin điện tử; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án; -Lưu Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Như Hiển |