vanban.org

Bản án 154/2023/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Mai Thị Ngọc B. chị Mai Thị Ngọc B được ly hôn với anh Hồ Hoàng P.

Về con chung: Chị B trực tiếp nuôi con Hồ Hoàng Phước Khang, sinh ngày 05/9/2010, anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi con tròn 18 tuổi. Thời gian bắt đầu cấp dưỡng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/12/2023). Sau khi ly hôn, cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai Thị Ngọc B - Hồ Hoàng P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Mai Thị Ngọc B. chị Mai Thị Ngọc B được ly hôn với anh Hồ Hoàng P.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 154/2023/HN- ST
Ngày 15/12/2023
V/v: “Xin ly hôn ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM TỈNH BẾN TRE

Với h nh h n i n

ơ h

- Th m phán - h t a phiên t a: Ông Trần Thanh Phong

- ác i th m nhân dân: Ông Ngô Bá Đức.

Bà Mai Thị Nhặc.

- Thư ký phiên t a: Bà Nguyễn Thị Thư Linh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Kiểm sát viên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân Hoàng.

Ngày 15 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 393/2023/TLST-HN ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 480/2023/QĐXXST-HN ngày 24/11/2023 và quyết định hoãn phiên toà số 485/2023/QĐST-HN ngày 01/12/2023 giữa:

* N uyên ơn Mai Thị Ngọc B, sinh 1992 (có yêu cầu xét xử vắng mặt)

Trú tại: Ấp Thới H, xã Thành Thới A, huyện Mỏ Cày N, tỉnh Bến Tre.

* Bị ơn: Hồ Hoàng P, sinh 1981 (vắng mặt không lý do)

Trú tại: Ấp Thới Kh, xã Thành Thới A, huyện Mỏ Cày N, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 01/12/2023 nguyên đơn chị B trình bày:

Vào năm 2015 tôi và P đã tiến tới hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thành Thới A, huyện Mỏ Cày Nam. Sau khi cưới nhau vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp, chúng tôi sống ly thân từ năm 2020 đến nayg. Nay tôi xin ly hôn với P.

Quá trình sống chung vợ chồng có 01 con chung tên Hồ Hoàng Phước Khang, sinh ngày 05/9/2010, con hiện đang sống cùng tôi. Tôi xin nuôi con, yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi con tròn 18 tuổi.

Tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/11/2023 bị đơn anh P trình bày: Vợ chồng bất đồng quan điểm và sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay B xin ly hôn thì anh không đồng ý. Nếu Toà án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì đồng ý để con chung cho B nuôi và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi con tròn 18 tuổi. Tài sản chung, nợ chung không có.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm cho rằng các giai đoạn tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện nhiệm vụ tuân thủ đúng các quy định pháp luật, người tham gia tố tụng bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Toà án nhưng không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên đề nghị tiếp tục xét xử vụ án. Về nội dung vụ án đề nghị Áp dụng điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị B.

Về con chung: Đề nghị giao con cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng. ghi nhận anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi con tròn 18 tuổi.

Tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được th m tra tại phiên t a, căn cứ vào lời trình bày c a các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, i đồng xét xử nhận thấy:

* Về á dụn há luậ ố ụn

Về quyền khởi kiện: Chị B cho rằng quá trình sống chung giữa vợ chồng không còn hạnh phúc nên muốn ly hôn, do đó chị khởi kiện. Căn cứ điều 51 luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 điều 68, điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự thì achị B có quyền khởi kiện.

Về thẩm quyền giải quyết: Đối với yêu cầu của chị B là tranh chấp về việc ly hôn. Căn cứ khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và nơi cư trú của bị đơn thuộc xã Thành Thới A, huyện Mỏ Cày Nam. Căn cứ điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam thụ lý giải quyết là phù hợp pháp luật.

* Về n i dun iải quyế vụ án

Chị B, anh P kết hôn trên cơ sở tự tìm hiểu quen biết và tự nguyện tiến đến hôn nhân, anh, chị có đăng ký kết hôn tại UBND cấp có thẩm quyền, do đó hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn anh chị sống có hạnh phúc, lẽ ra anh, chị phải biết gìn giữ, nhưng từ những mâu thuẫn trong đời sống thường ngày mà anh, chị không tìm cách để khắc phục, sống ly thân, bỏ mặt nhau. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết chị B vẫn giữ nguyên quan điểm ly hôn, còn anh P đã được triệu tập rất nhiều lần để Tòa án tiến hành tổ chức hòa giải tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ nhưng anh vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy anh P không có thiện chí muốn trở về chung sống với chị B. Xét mâu thuẫn vợ chồng anh chị là có thật, nếu để anh chị tiếp tục chung sống thì mục đích hôn nhân sẽ không đạt được, do đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị B là phù hợp.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung Hồ Hoàng Phước Khang, sinh ngày 05/9/2010, con hiện đang sống cùng chị B, đã thích nghi với việc chăm sóc của chị B. Anh P cũng đồng ý để con cho chị B nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi con tròn 18 tuổi, nên ghi nhận.

Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét.

chị B phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Anh P chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Quan điểm của kiểm sát viên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điều 51, 56 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng khoản 5, khoản 6 điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Mai Thị Ngọc B. chị Mai Thị Ngọc B được ly hôn với anh Hồ Hoàng P.

Về con chung: Chị B trực tiếp nuôi con Hồ Hoàng Phước Khang, sinh ngày 05/9/2010, anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi con tròn 18 tuổi. Thời gian bắt đầu cấp dưỡng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/12/2023).

Sau khi ly hôn, cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con chung, người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, khi có căn cứ một hoặc cả hai bên chị B, anh P được quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét.

Án phí: Chị B chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001236 ngày 17/10/2023. Anh P chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ