vanban.org

Bản án 154/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 04/05/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/05/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bi cao Ngo Quoc T pham toi lua dao chiem doat tai san - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Căn cứ chính? Điều 357 Bộ luật tố tụng hình s; Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình s; Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 154/2022/HS-PT
Ngày 04-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử ph c thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh

Các Thẩm phán: Ông Phạm Minh Tùng

Bà Nguyễn Thị Võ Trinh

- Thư ký phiên tòa: ng Hu nh Văn Nh t Minh - Th m tra viên T a án nhân dân t nh Đ ng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Liệt - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở T a án nhân dân t nh Đ ng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình s phúc th m thụ lý số: 72/2021/TLPT-HS ngày 24 tháng 02 năm 2022 đối v i bị cáo Ngô Quốc T. Do c kháng cáo c a bị cáo Ngô Quốc T đối v i Bản án hình s s th m số: 04/2022 HS-ST ngày tháng 01 năm 2022 c a T a án nhân dân thành phố Cao Lãnh.

- Bị cáo c kháng cáo: Ngô Quốc T, sinh năm 984, tại t nh An Giang; Gi i tính: Nam; HKTT: Số nhà XXX, khóm M, phường X, thành phố C, t nh Đ ng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 5 2; cha: Ngô Văn K; m : Bùi Kim H; vợ: Nguyễn Thị H1; bị cáo c 03 người con, con l n sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 20 ; tiền án, tiền s : Không; bắt tạm giam ngày 4 4 202 . Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Đ ng Tháp và c mặt tại phiên t a.

Trong vụ án còn c bị hại và người c quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI D NG V ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m t t như sau:

Vào ngày 03/11/2018, Ngô Quốc T và vợ là chị Nguyễn Thị H1 mua một xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA FORTUNER, màu bạc, loại xe 7 chỗ, biển số 6XA – 07XXX v i số tiền ,3 tỷ đ ng, trong đ c 800.000.000 đ ng là tiền mà T và chị H1 vay c a Ngân hàng Thư ng mại cổ phần Kiên Long - chi nhánh Đ ng Tháp thông qua hợp đ ng tín dụng từng lần số 07 8 HĐTD 0600-700 57 ngày 03 20 8 và thế chấp giấy chứng nhận đăng ký xe do T đứng tên, c n xe ô tô thì Ngân hàng tạm giao cho T quản lý, sử dụng, thời hạn 84 tháng kể từ ngày 06 20 8, số tiền c n lại là c a cá nhân T. Tháng 12/2018, T nhận chạy xe hợp đ ng đến thành phố H Chí Minh, quen biết một người nam thanh niên cùng là tài xế (không biết rõ nhân thân) và được người này r phô tô màu giấy đăng ký xe (giấy giả) v i giá 600.000 đ ng. T thấy đ p nên đ ng ý và đưa giấy đăng ký xe ô tô (bản phô tô sao y c a Ngân hàng) cho người này để làm giấy đăng ký xe giả cho T sử dụng.

Do cần tiền để làm ăn và trả nợ Ngân hàng nên T nảy sinh ý định mang xe ô tô nêu trên cùng giấy chứng nhận đăng ký xe giả để cầm cố. Ngày 02 0 2020, T uống cà phê v i bạn là anh Trần Văn H2 và hỏi H2 n i cầm xe ô tô uy tín để T cầm khoảng vài tháng do đang cần tiền làm ăn. H2 dẫn T đến cửa hàng dịch vụ cầm đ P tại số XXX, Nguyễn Thái H, khóm T, phường H, thành phố C do chị Bùi Kim T1 làm ch để cầm xe ô tô nêu trên. H2 đứng bên ngoài chờ, T vào một mình gặp chị T1 và đưa cho chị T1 Giấy chứng nhận đăng ký xe giả để thỏa thuận cầm xe ô tô v i số tiền 300.000.000 đ ng. Chị T1 không biết xe ô tô c a T đã thế chấp cho Ngân hàng Kiên Long và giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô là giả nên đ ng ý và hai bên thống nhất giao kết Hợp đ ng cầm cố số 42 ngày 02 0 2020, v i lãi suất 4% tháng. Đến ngày 04 0 2020, T gặp chị T1 thỏa thuận nhận thêm 300.000.000 đ ng nữa. Chị T1 yêu cầu phải c vợ c a T đến ký tên chị T1 m i đ ng ý. Vì không muốn chị H1 biết việc T mang xe ô tô đi cầm nên T nhờ chị Lê Thị Mỹ P sinh năm 985, ngụ xã H, thành phố C là em kết nghĩa c a T đến gặp chị T1 và T gi i thiệu chị P là vợ c a T nên chị T1 để chị P ký tên vào Hợp đ ng cầm xe và đưa cho Trung thêm 300.000.000 đ ng. Đến ngày 2 7 2020, Trung tiếp tục đến gặp chị Thu thỏa thuận nhận thêm 30.000.000 đ ng tiền cầm xe. Như vậy, Trung cầm cố xe ô tô cho chị T1 nhận tiền 03 lần v i tổng số tiền là 630.000.000 đ ng. Trung đ ng lãi cho chị Thu được 06 tháng, mỗi tháng 27.000.000 đ ng, tổng cộng là 62.000.000đ ng. Đến tháng thứ 07 T lẫn trốn không đ ng tiền lãi tiếp cho chị T1. Quá thời hạn đ ng lãi và không thể liên lạc được v i T nên theo thỏa thuận c a Hợp đ ng cầm đ , chị T1 tìm người bán lại xe ô tô 6XA-07XXX để thu h i nợ thì phát hiện giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do T đứng tên nêu trên là giả nên đến C quan Công an tố giác hành vi c a T.

Căn cứ Kết luận giám định số 06 KL-KTHS ngày 05 0 202 c a Ph ng Kỹ thuật Hình s Công an t nh Đ ng Tháp, kết luận Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 0 9057, tên ch xe Ngô Minh T, sinh năm 984 là giả.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 03 KL-HĐĐGTS ngày 08 02 2020 c a Hội đ ng định giá tài sản tố tụng hình s t nh Đ ng Tháp, kết luận xe ô tô Toyota, biển số 6XA-07XXX, c giá trị là 803.000.000 đ ng.

Tại bản án hình s s th m số: 04/2022/HS-ST ngày 11/01/2022 c a T a án nhân dân thành phố C đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Ngô Quốc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả c a c quan, tổ chức”.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 74 và điểm b, s khoản , khoản 2 Điều 5 Bộ luật Hình s .

Xử phạt bị cáo Ngô Quốc T 07 (bảy) năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 34 và điểm s khoản , khoản 2 Điều 5 Bộ luật Hình s .

Xử phạt bị cáo Ngô Quốc T 03 (ba) năm tù, về tội “Sử dụng tài liệu giả c a c quan, tổ chức”.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình s , tổng hợp hình phạt chung c a hai tội, buộc bị cáo Ngô Quốc T phải chấp hành 0 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 4 4 202 .

Ngoài ra, án s th m c n tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 21 tháng 01 năm 2022, bị cáo Ngô Quốc T c đ n kháng cáo v i nội dung xin giảm nh hình phạt.

Tại phiên t a, đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ ng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi c a bị cáo Ngô Quốc T bị T a án cấp s th m quy kết về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả c a c quan, tổ chức” theo điểm a khoản 3 Điều 74 và điểm b khoản 3 Điều 341 c a Bộ luật hình s là c căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định c a pháp luật. Bị cáo Ngô Quốc T kháng cáo xin giảm nh hình phạt có cung cấp các tình tiết m i là xác nhận c a chính quyền địa phư ng về hoàn cảnh gia đình bị cáo kh khăn; người bị hại c đ n xin giảm nh hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình s mà cấp s th m chưa xem xét cho bị cáo. Xét mức hình phạt 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mà T a án cấp s th m đã tuyên đối v i bị cáo là c phần nghiêm khắc. Do đ , đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nh hình phạt c a bị cáo, sửa phần quyết định c a bản án s th m về hình phạt đối v i tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, giảm nh cho bị cáo từ 03 tháng đến 06 tháng tù.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận mà ch xin Hội đ ng xét xử nh hình phạt cho bị cáo.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h s vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

[ ] Tại phiên t a, bị cáo Ngô Quốc T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình. Lời khai nhận tội c a các bị cáo phù hợp v i lời khai c a bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên t a s th m, phù hợp v i lời khai c a người bị hại, người c quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong h s vụ án, đ c sở để xác định: Do cần tiền làm ăn và trả nợ cá nhân nên Ngô Quốc T sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả để chị Bùi Kim T1 tin tưởng nhận cầm chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA FORTUNER, màu bạc, loại xe 07 chỗ, biển số 6XA-07XXX, v i tổng số tiền 630.000.000 đ ng, lãi suất 4% tháng. Sau khi cầm xe, bị cáo T trả tiền lãi cho chị T1 được 6 tháng v i tổng số tiền 62.000.000 đ ng nhưng sau đ không tiếp tục th c hiện trả tiền theo thỏa thuận nên chị T1 đến C quan Công an tố giác hành vi c a T. Tổng số tiền Ngô Quốc T đã chiếm đoạt c a chị T1 là 468.000.000 đ ng.

[2] Hội đ ng xét xử xét thấy, hành vi c a bị cáo Ngô Quốc T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp c a người bị hại, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn, bình thường c a c quan, tổ chức trong lĩnh v c quản lý hành chính Nhà nư c một cách trái pháp luật. Bị cáo Ngô Quốc T là người đã trưởng thành, c đ năng l c trách nhiệm hình s nhưng do muốn c tiền để trả nợ cá nhân và làm ăn nên bị cáo đã sử dụng giấy đăng ký xe ô tô giả để cầm xe ô tô cho chị T1 để chiếm đoạt số tiền 468.000.000 đ ng. Bị cáo biết rõ hành vi c a bản thân là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn th c hiện chứng tỏ hành vi c a bị cáo là cố ý và th c hiện tội phạm đã hoàn thành.

[3] T a án cấp s th m đã xét xử bị cáo Ngô Quốc T về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả c a c quan, tổ chức” theo điểm a khoản 3 Điều 74; điểm b khoản 3 Điều 341 c a Bộ luật hình s là c căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Sau khi án s th m tuyên, bị cáo Ngô Quốc T kháng cáo xin giảm nh hình phạt có cung cấp các tình tiết m i là xác nhận c a chính quyền địa phư ng về hoàn cảnh gia đình bị cáo kh khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình để nuôi 03 con còn nhỏ; trong giai đoạn chu n bị xét xử phúc th m, người bị hại tiếp tục c đ n bãi nại, xin giảm nh hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình s theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Bộ luật hình s mà cấp s th m chưa xem xét cho bị cáo. Xét mức hình phạt 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mà T a án cấp s th m đã tuyên đối v i bị cáo là c phần nghiêm khắc. Bởi lẽ, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa s th m, bị cáo đã thành kh n khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo đã b i thường khắc phục xong toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho người bị hại. Đây là các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình s theo quy định tại các điểm b, s khoản Điều 5 Bộ luật hình s . V i các tình tiết giảm nh nêu trên, xét thấy cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình s , giảm nh cho bị cáo một phần về hình phạt. Do đ , Hội đ ng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nh hình phạt c a bị cáo, sửa phần quyết định c a bản án s th m về hình phạt đối v i bị cáo.

[4] Từ những nội dung trên, xét đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát tại phiên t a đối v i bị cáo là c c sở, phù hợp pháp luật, nên được Hội đ ng xét xử xem xét chấp nhận.

[5] Do kháng cáo c a bị cáo Ngô Quốc T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình s phúc th m.

Các phần khác c a quyết định bản án s th m không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu l c kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

Q YẾT Đ NH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản Điều 355; điểm c khoản Điều 357 c a Bộ luật tố tụng hình s .

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nh hình phạt c a bị cáo Ngô Quốc T. Sửa một phần quyết định c a bản án hình s s th m về phần hình phạt đối v i bị cáo.

2. Tuyên bố bị cáo Ngô Quốc T phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả c a c quan, tổ chức”.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 74; điểm b, s khoản , khoản 2 Điều 5 ; khoản Điều 54; Điều 55 Bộ luật Hình s .

Xử phạt bị cáo Ngô Quốc T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 34 và điểm s khoản , khoản 2 Điều 5 Bộ luật Hình s .

Xử phạt bị cáo Ngô Quốc T 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả c a c quan, tổ chức”.

Tổng hợp hình phạt chung c a hai tội, buộc bị cáo Ngô Quốc T phải chấp hành là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 4 4 202 .

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 35; khoản 2 Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình s .

Bị cáo Ngô Quốc T không phải chịu án phí hình s phúc th m.

4. Các phần khác c a quyết định bản án s th m không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu l c kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc th m c hiệu l c pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ