- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thanh T bị truy tố về tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 154/2021/HSST Ngày 02 - 11 - 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Kim Cương
Các Hội thẩm nhân dân :
Bà Trương Ánh Hoa;
Ông Huỳnh Hoàng Khởi
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Xuân Thùy Dương – Thư ký Tòa án.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Châu Long - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 156/2021/HSST ngày 06 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 553/2021/HSST – QĐXX ngày 01 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Thành T; sinh ngày 12/12/1998; nơi sinh: Cà Mau; đăng ký nhân khẩu thường trú: Số 83, đường X, khóm 2, phường 8, thành phố M, tỉnh Cà Mau; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; con ông: Ngô Thành M (đã chết); con bà Đoàn Thị H (còn sống); vợ: con: chưa có; anh chị em ruột bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28 tháng 3 năm 2017 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng, chấp hành xong Quyết định ngày 13/7/2018. Bị bắt tạm giam từ ngày 31/5/2021 đến nay (bị cáo có mặt).
- Bị hại : Anh Hồ Trung H, sinh năm 1997 Địa chỉ: Ấp S, xã K, huyện TB, tỉnh Cà Mau (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 28/01/2021 Ngô Thành T đi bộ từ phòng trọ thuộc khóm 2, phường 6, thành phố M đến đường 19/5 khóm 1, phường 8, thành phố M thì T phát hiện xe mô tô hiệu Airblade, màu đỏ đen biển số 69D1 – 340.37 của anh Hồ Trung H ngụ ấp S, xã K, huyện TB, tỉnh Cà Mau đang đậu trên vĩa hè đường 19/5 trước dãy nhà trọ của bà Nguyễn Phương Th. T quan sát không thấy ai trông coi xe nên T nảy sinh ý định trộm xe trên để bán lấy tiền tiêu xài.
Tính lén lút đi đến vị trí đậu xe 69D1 – 340.37 rồi dẫn xe đi đến bến đò R thuộc khóm 3, phường 8, thành phố M. Tại đây T dùng tay tháo biển số xe 69D1 – 340.37 ném xuống sông và ngồi giữ xe đến khoảng 07 giờ sáng cùng ngày T dẫn xe đến nhà bạn tên Trần Văn T ngụ khóm 3, phường 8, thành phố M và nói với T cho gửi nhờ xe Airblade của anh T.
Đến sáng 28/01/2021 anh H phát hiện xe Airblade biển số 69D1 – 340.37 của mình bị mất trộm nên báo công an phường 8, thành phố Cà Mau. Do xe có gắn thiết bị định vị nên anh H phát hiện xe của mình đang đậu trong khu vực nhà Trần Văn T nên báo Công an phường 8, thành phố Cà Mau tiến hành đến nhà thu giữ xe trên.
Tang vật thu giữ như sau:
- 01 (một) xe mô tô hiệu Airblade, màu đỏ đen không biển số.
Tại kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐG ngày 27/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Tính vào thời điểm định giá 28/01/2021: 01 (một) xe mô tô hiệu Airblade, màu đỏ đen đã qua sử dụng, còn lại 65%, có giá trị là 26.626.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì về dân sự, nhưng tại phiên tòa bị hại anh Hồ Trung H khai trong xe bị mất 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Hồ Trung H, 01 áo khoác đã qua sử dụng, 01 cục sạt dự phòng đã qua sử dụng. Tuy nhiên, bị hại chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí đi làm lại biển số xe và các giấy tờ đã mất với số tiền 3.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu bị hại.
Tại cáo trạng số: 151/CT – VKS ngày 05 tháng 8 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố Ngô Thành T về tội “Trộm cắp tài sản” theo 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Taïi phieân toøa, ñaïi dieän Vieän kieåm saùt vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng đã nêu, và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, h, s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Ngô Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Ngô Thành T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Vật chứng xử lý tại phiên tòa: Không
Về trách nhiệm dân sự: Anh Hồ Trung H đã nhận lại tài sản bị mất trộm là xe mô tô hiệu Airblade, màu đỏ đen hiện tại tòa anh H còn trình bày mất các giấy tờ cá nhân và yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí làm lại các giấy tờ trên số tiền 3.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường. Nhưng yêu cầu trên của anh H chưa có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử tách ra thành vụ án dân sự khác.
Tại tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai nhận của bị cáo Ngô Thành T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại Hồ Trung H và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án từ đó đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 04 giờ 00 phút ngày 28/01/2021, Ngô Thành T đã lén lút lấy trộm của anh Hồ Trung H 01 (một) xe mô tô hiệu Airblade, màu đỏ đen biển số 69D1-340.37, có giá trị được định giá là 26.626.600 đồng, nhằm mục đích bán để tiêu xài cá nhân.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bản tính lười lao động muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của những người khác, gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Bản thân bị cáo tuy không tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để đảm bảo tính răn đe, trừng trị của pháp luật, đồng thời có thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt, có ích và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến tình tiết trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Hồ Trung H đã nhận lại tài sản bị mất trộm là xe mô tô hiệu Airblade, màu đỏ đen. Trong Quá trình điều tra bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì về dân sự. Nhưng tại phiên tòa bị hại anh Hồ Trung H khai ngoài ra anh còn bị mất 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Hồ Trung H, 01 áo khoác đã qua sử dụng, 01 cục sạt dự phòng, đã qua sử dụng (để trong cóp xe). Hiện bị hại chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường tiền chi phí do đi làm lại biển số xe và các giấy tờ đã mất, với tổng số tiền yêu cầu là 3.000.000 đồng. Bị cáo thừa nhận có lấy những giấy tờ trên và hiện đã bỏ mất và thống nhất bồi thường theo yêu cầu bị hại.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên tòa bị cáo cũng thừa nhận có lấy 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Hồ Trung H, 01 áo khoác đã qua sử dụng, 01 cục sạt dự phòng đã qua sử dụng (để trong cóp xe) của bị hại. Các giấy tờ bị cáo đã giục mất, các tài sản khác thì bị cáo đem cho bạn nên xét thấy không thể thu hồi. Cho nên nếu trả hồ sơ điều tra bổ sung cũng không thể thu hồi lại các tài sản trên để tiến hành định giá được. Hơn nữa, bị hại cũng xác định 01 áo khoác, 01 cục sạt dự phòng (đã qua sử dụng) giá trị không lớn nên không yêu cầu định giá và yêu cầu bị cáo bồi thường. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Riêng chi phí làm lại biển số xe và các giấy tờ, bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 3.000.000 đồng. Xét sự thỏa thuận trên của bị cáo và bị hại phù hợp quy định pháp luật nên ghi nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật, và án phí dân sự có giá ngạch về bồi thường thiệt hại theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên bố: Bị cáo Ngô Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Thành T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2021.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại anh Hồ Trung Hs ố tiền 3.000.000 đồng.
Kể từ ngày anh Hồ Trung H có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo phải thanh toán xong khoản tiền nêu trên, nếu không thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng bị cáo phải nộp và án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (chưa nộp).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - Trại tạm giam Tp Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; VKSND TP Cà Mau; - Bị cáo, bị hại; - Cơ quan điều tra CATPCM; - Cơ quan THA hình sự, THA dân sự TP Cà Mau; - UBND phường 8, TP Cà Mau, tỉnh Cà Mau; - Lưu hồ sơ, AV, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Phạm Kim Cƣơng |