vanban.org

Bản án 154/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 20/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lò Văn L 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là 27/5/2020. Về Biện pháp tư pháp, trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Lan, phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 154/2020/HSST
Ngày: 20-8-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lò Văn Thương

2. Ông: Quàng Văn Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoàn – Kiểm sát viên.

Ngày 20/8/2020, tại phòng xét xử 1, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 151/2020/HSST ngày 09/7/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2020/QĐXXST-HS ngày 07/8/2020 đối với bị cáo:

Họ tên: Lò Văn L; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1992; tại: Điện Biên; Nơi ĐKHKTT: Bản T, xã Núa Ngam, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn H và bà: Lường Thị N; Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào; bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 06 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản theo bản án 87/2015/HSST ngày 17/6/2015. Ngày 17/9/2015 bị cáo chấp hành xong bản án; bị cáo bị tạm giam ngày 27/5/2020.

Bị hại: 1. Chị Lò Thị V; SN: 1978; địa chỉ: Bản S, xã Sam Mứn, huyện Điện

Biên, tỉnh Điện Biên. (vắng mặt có lý do)

2. Anh Quàng Văn Kh; SN: 1984; nơi cư trú: Bản T, xã Núa Ngam,

huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. (vắng mặt có lý do)

Ngƣời đại diện theo ủy quyền của anh Quàng Văn Kh: Ông Quàng Văn Kh2; SN: 1933; địa chỉ: Bản T, xã Núa Ngam, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. (vắng mặt có lý do)

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vừ A Kh, SN: 1992; nơi cư trú: Bản C, xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên. (vắng mặt có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong các ngày 21/5 và 22/5/2020, Lò Văn L đã nhiều lần có hành vi trộm cắp tài sản cụ thể như sau:

Lần 1: Vào khoảng 10 giờ 50 phút ngày 21/5/2020, Lò Văn L đi bộ từ bản Xôm, xã Thanh An, huyện Điện Biên về nhà. Khi đi qua đoạn đường vành đai thuộc khu vực mó nước bản Sam Mứn, xã Sam Mứn, huyện Điện Biên, L nhìn thấy một chiếc mô tô biển kiểm soát 27B1- 213.51 của chị Lò Thị V, vẫn cắm chìa khóa điện ở xe, dựng bên phải đường theo hướng đi của L. Quan sát xung quanh thấy không có ai, L liền nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. L đã lén lút đi đến gần và dắt chiếc xe ra khỏi chỗ dựng khoảng 20 mét rồi bật chìa khóa điện, nổ máy điều khiển xe đi về hướng huyện Điện Biên Đông tìm chỗ bán chiếc xe. Khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đi đến trung tâm xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông, L vào quán sửa chữa xe máy của anh Vừ A Kh, L nói dối là xe của mình, giấy tờ đã bị rơi, do xe cũ, đi nóng máy không có tiền sửa chữa nên muốn bán. Qua trao đổi, anh Kh đã mua chiếc xe trên với giá 700.000 đồng. Sau khi bán được, L đi xe khách về bản Xôm, xã Thanh An, huyện Điện Biên chơi và mua ma túy của người không rõ tên và địa chỉ sử dụng hết.

Lần 2: Khoảng 12 giờ ngày 22/5/2020, Lò Văn L đi bộ từ bản Xôm, xã Thanh An, huyện Điện Biên, khi đi qua nhà Quàng Văn Kh, trú cùng bản Ten Núa, L nhìn thấy chiếc xe mô tô 27B1- 280.37 của anh Kh đang dựng ở dưới gầm nhà sàn vẫn cắm chìa khóa điện ở xe, quan sát xung quanh không thấy ai, cổng không khóa, L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. L lén lút mở cổng và đi vào gầm sàn nhà, dắt chiếc xe mô tô ra khỏi nhà anh Kh khoảng 40 mét rồi mới bật chìa khóa điện, nổ máy mục đích để gia đình anh Kh không phát hiện ra rồi điều khiển xe đi về hướng huyện Điện Biên Đông để bán xe. Hồi 15 giờ 20 phút ngày 22/5/2020, khi Lò Văn L đang điều khiển xe mô tô đi đến tổ 5, thị trấn huyện Điện Biên Đông thì bị Tổ công tác Công an thị trấn Điện Biên Đông, dừng xe kiểm tra giấy tờ, L không cung cấp được nên đã bị yêu cầu về trụ sở làm việc. Tại đây L đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình. Công an thị trấn Điện Biên Đông đã lập biên bản sự việc và tạm giữ chiếc xe mô tô trên và bàn giao cho Công an huyện Điện Biên giải quyết.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 29/KL-ĐG và Kết luận định giá tài sản số 30/KL-ĐG cùng ngày 25/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 chiếc mô tô biển kiểm soát 27B1- 213.51 có giá trị là: 7.000.000 đồng; 01 xe mô tô biển kiểm soát 27B1- 280.37 có giá trị là: 12.750.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 19.750.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn L một lần nữa đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tại bản Cáo trạng số 150/CT-VKSĐB ngày 08/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Lò Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa trong lời luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị hại đã nhận lại, nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải thanh trả số tiền 700.000 đồng nên không xem xét. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng, không có ý kiến tự bào chữa cũng như không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về bản Luận tội.

Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt không có ý kiến gì khác về hành vi phạm tội của bị cáo, trách nhiệm dân sự bị hại không yêu cầu Tòa án giải quyết, về trách nhiệm hình sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 700.000 đồng.

Lời nói sau cùng của bị cáo ngoài xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi của bị cáo: Trong các ngày 21 và 22/5/2020, lợi dụng sơ hở của chị Lò Thị V và anh Quàng Văn Kh, Lò Văn L đã lén lút dịch chuyển tài sản là xe mô tô biển kiểm soát 27B1- 213.51 và xe mô tô biển kiểm soát 27B1- 280.37 nhằm mục đích chiếm đoạt để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo đã hoàn thành. Tổng giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt được là: 19.750.000 đồng. Với hành vi và giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt thì bị cáo đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của bị cáo.

. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Điện Biên nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Hành vi của bị cáo cần phải xử lý trước pháp luật để bị cáo lấy đó là bài học cho mình đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 06 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản theo bản án 87/2015/HSST ngày 17/6/2015. Ngày 17/9/2015, bị cáo chấp hành xong bản án, bị cáo đã được xóa án tích. Bị cáo đã 02 lần trộm cắp tài sản mà mỗi lần giá trị tài sản đều trên 2.000.000 đồng nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy trong thời gian ngắn bị cáo 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội đồng thời để bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy.

. Về hành vi và các Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã thực hiện đều hợp pháp Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự nhưng gia đình bị cáo chỉ buôn bán nhỏ, thu nhập đủ ăn nên khó có khả năng thi hành, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về Biện pháp tư pháp, trách nhiệm dân sự và việc xử lý vật chứng: Tài sản bị cáo trộm cắp đã được Cơ quan Điều tra trả lại cho chị V và anh Kh theo biên bản trao trả tài sản ngày 29/6/2020. chị V và anh Kh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác, bị cáo bán xe cho anh Vừ A Kh được số tiền 700.000 đồng số tiền nay anh Kh không yêu cầu bị cáo trả cho anh nên Hội đồng xét xử không xem xét về trách nhiệm dân sự và việc xử lý vật chứng.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Lò Văn L 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là 27/5/2020.

3. Về Biện pháp tư pháp, trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lò Văn L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/8/2020). chị V, anh Kh, ông Khụt có quyền kháng cáo bản án, anh Kh có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ