- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lâm Thị Thanh H-Dương Hoài L"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 154/2020/HNGĐ-ST Ngày 23 - 11 - 2020 Về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Hồng Nhân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Văn Đến
2. Ông Cao Xuân Lâm
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Dương Khởi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2020 về việc:“Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 28 tháng 10 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2020/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Thanh H, sinh năm 1982 (có đơn xin giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Anh Dương Hoài L, sinh năm 1981 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện đề ngày 05/10/2020, đơn xin giải quyết vắng mặt và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lâm Thị Thanh H trình bày: Vào năm 2001 chị và anh L có tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, đến năm 2002 anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Mỹ, huyện Châu Thành. Quá trình sống chung anh chị có 02 người con chung tên Dương Hoài B, sinh ngày 08/4/2003 và Dương Thị Cát T, sinh ngày 27/4/2008. Tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung: Không có.
Thời gian đầu chung sống 02 vợ chồng đã bắt đầu phát sinh mâu thuẩn. Anh L thường xuyên dùng lời lẽ xúc phạm chị và có hành vi đánh đập chị, có lần chị phải vào viện điều trị. Chị cho cơ hội anh L nhiều lần nhưng anh L không thay đổi, vẫn bạo hành chị tiếp. Đến năm 2018, vợ chồng anh chị cùng đi làm tại Thành phố Hồ Chí Minh, chị về trễ thì anh L đóng cửa không cho chị vào nhà. Nay chị không thể tiếp tục cuộc hôn nhân với anh L, mục đích hôn nhân không đạt được nữa nên chị yêu cầu ly hôn với anh L.
Về con chung: 02 người con chung tên Dương Hoài B, sinh ngày 08/4/2003 và Dương Thị Cát T, sinh ngày 27/4/2008, theo ý nguyện của con muốn theo ai thì người đó nuôi, nếu con theo chị thì chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị với anh L tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai ngày 20/10/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án anh Dương Hoài L trình bày: Về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung thì anh Dương Hoài L thống nhất như lời trình bày chị Lâm Thị Thanh H. Quá trình sống chung với chị H, hai vợ chồng thường xuyên mâu thuẩn do bất dồng ý kiến. Nay chị H yêu cầu ly hôn, anh đồng ý.
Về con chung: Hai vợ chồng có 02 người con chung tên Dương Hoài B, sinh ngày 08/4/2003 và Dương Thị Cát T, sinh ngày 27/4/2008, theo ý nguyện của con muốn theo ai thì người đó nuôi, nếu con theo anh thì anh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Tại bản tự khai ngày 20/10/2020 của em Dương Hoài B và em Dương Thị Cát T: Khi cha mẹ ly hôn, hai em tự nguyện sống với mẹ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 20 tháng 10 năm 2020. Tại phiên họp, chị Lâm Thị Thanh H và anh Dương Hoài L thuận tình ly hôn và thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên anh L tự ý bỏ về không ký tên vào các biên bản của Tòa án.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Chị Lâm Thị Thanh H có đơn xin giải quyết vắng mặt, anh Dương Hoài L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh L theo khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự thực hiện theo các quy định tại các Điều 48, 68, 70, 71, 72, 97, 177, 196, 203, 205, 208, 209, 210, 211, 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Nội dung vụ án: Vị kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 51, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Thanh H. Cho chị H được ly hôn với anh L, giao con chung tên Dương Hoài B, sinh ngày 08/4/2003 và Dương Thị Cát T, sinh ngày 27/4/2008 cho chị H nuôi dưỡng (Theo ý muốn của em B và em T muốn sống cùng chị H). Chị Lâm Thị Thanh H có nghĩa vụ chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật của vụ án: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, bị đơn anh Dương Hoài L có nơi cư trú tại Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, căn cứ vào khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
[2] Xét thấy, chị Lâm Thị Thanh H và anh Dương Hoài L tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân với nhau vào năm 2001, đến năm 2002 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.
[3] Về hôn nhân: Quá trình chung sống với nhau giữa chị Lâm Thị Thanh H và anh Dương Hoài L phát sinh mâu thuẩn, anh L thường xuyên có hành vi đánh đập và hành hạ chị H, dùng những lời nói xúc phạm chị và gia đình chị. Mặc khác, theo lời trình bày của chị H, nhiều lần cho anh L cơ hội sửa đổi nhưng anh L không thay đổi. Đối với anh L cũng thừa nhận cuộc sống hôn nhân với chị H cũng xảy ra mâu thuẩn nên anh cũng đồng ý ly hôn với chị H. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng của chị H và anh L không còn yêu thương nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cho chị Lâm Thị Thanh H và anh Dương Hoài L ly hôn là có cơ sở.
[5] Con chung: 02 người con chung Dương Hoài B, sinh ngày 08/4/2003 và Dương Thị Cát T, sinh ngày 27/4/2008 đều có ý muốn sống chung với chị Lâm Thị Thanh H nên Hội đồng xét xử giao 02 người con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ.
Cấp dưỡng nuôi con: Chị Lâm Thị Thanh H không có yêu cầu anh Dương Hoài L cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Tài sản chung: Chị Lâm Thị Thanh H tự thỏa thuận với anh Dương Hoài L, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Nợ chung: Chị Lâm Thị Thanh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[7] Xét đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.
[8] Án phí: Chị Lâm Thị Thanh H chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39, khoản 1 Điều 227, Điều 147, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 51; 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Lâm Thị Thanh H. Cho chị Lâm Thị Thanh H được ly hôn với anh Dương Hoài L.
Con chung: Giao 02 con chung Dương Hoài B, sinh ngày 08/4/2003 và Dương Thị Cát T, sinh ngày 27/4/2008 cho chị Lâm Thị Thanh H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc.
Cấp dưỡng nuôi con: Chị Lâm Thị Thanh H không có yêu cầu anh Dương Hoài L cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Anh Dương Hoài L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Chị Lâm Thị Thanh H tự thỏa thuận với anh Dương Hoài L, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Nợ chung: Chị Lâm Thị Thanh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết
Về án phí: Chị Lâm Thị Thanh H chịu toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà chị H đã nộp theo biên lai số 0001314 ngày 05/10/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, chị Lâm Thị Thanh H không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Châu Thành; - THADS huyện Châu Thành; - UBND xã Thanh Mỹ; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Sơn Thị Hồng Nhân |