- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Tấn L phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 154/2019/HS-ST Ngày: 30-8-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sinh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Lâm;
2. Ông Võ Hùng Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Điền - Kiểm sát viên.
Ngày 26 và 30 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 146/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
H và tên: Lý Tấn L, sinh năm 1988. Tại: An Giang; nơi cư trú: Ấp P, xã Đ, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Đầu bếp; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Tấn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; bị cáo có vợ là Nguyễn Chúc Q và 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị b t ngày 19/3/2019 đến ngày 29/3/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tại ngoại cho đến nay; có mặt.
Bị hại: Bà Đỗ Thị Xuân G, sinh năm 1987; địa chỉ: Ấp 6, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương; v ng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lý Mỹ Tr, sinh năm 1974; địa chỉ: Ấp P, xã Đ, huyện A, tỉnh An Giang; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Ngày 06/3/2019, chị Đỗ Thị Xuân G, sinh năm 1987; ngụ tại ấp 6, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương, tạm trú tại Đường NH, khu 7, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương do buồn chuyện gia đình nên lên mạng xã hội Zalo tìm người kết bạn trò chuyện thì gặp Lý Tấn L (Tên tài khoản Zalo của L là “Hạnh Phúc Bất Tận”) nên chị G và L kết bạn trò chuyện. Ngày 10/3/2019 L và chị G hẹn gặp nhau tại nhà nghỉ M, thuộc phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương và quan hệ tình dục với nhau. Đến ngày 13/3/2019, chị G nh n tin trên Zalo cho L có nội dung là chị G bị chồng đánh do làm ăn thua lỗ nên L nói với chị G để L qua đánh chồng chị G nhưng chị G không đồng ý mà năn nỉ L đừng đánh chồng của mình. Lúc này, L yêu cầu chị G gửi 02 tấm hình không mặc quần áo của chị G cho L thì Lsẽ không đánh chồng chị G nên chị G đồng ý và gửi 02 tấm hình của chị G không mặc quần áo qua tài khoản Zalo có tên “Hạnh Phúc Bất Tận” cho L. Sau khi nhận được 02 tấm hình không mặc quần áo của chị G, Lợi nảy sinh ý định uy hiếp tinh thần nhằm chiếm đoạt tiền của chị G nên đe d a và đưa ra hai phương án để chị G lựa ch n: Thứ nhất, mỗi tháng chị G phải gặp L 04 (Bốn) lần để cho L quan hệ tình dục; thứ hai, chị G phải đưa cho L số tiền là 5.000.000 (Năm triệu) đồng thì L sẽ xóa 02 tấm hình không mặc quần áo của chị G; nếu chị G không thực hiện 01 trong 02 phương án trên thì L sẽ đánh chồng chị G và đăng hình không mặc quần áo của chị G lên mạng xã hội, đồng thời in hình không mặc quần áo của chị G cho hàng xóm của chị G xem. Do bị Lợi đe d a và uy hiếp tinh thần nên chị G lo sợ và lựa ch n cách đưa số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng cho L. Ngày 19/3/2019, chị G nh n tin nói cho L biết chị G đã vay được tiền nên L hẹn chị G đến khu vực sân bóng đá ở đường Huỳnh Thúc Kháng; địa chỉ tại khu 3, phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để giao tiền. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, chị G đi đến nơi hẹn gặp L và đưa số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng cho L. Khi L vừa cầm số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng thì bị lực lượng phòng chống tội phạm phường Phú Hòa, thành phố Thủ Dầu Một phát hiện yêu cầu về Công an phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để làm việc. Tại cơ quan Công an, L khai nhận hành vi phạm tội nên Công an phường Hòa Phú lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ: 01 (Một) xe môtô hiệu Shark biển số 67X1 – 2746 màu đen; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo màu tr ng và số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng. Sau đó Công an phường Hòa Phú chuyển giao hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một xử lý theo thẩm quyền.
Đối với số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng, quá trình điều tra xác định: Số tiền trên là tài sản của chị G nên ngày 28/3/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một đã giao trả số tiền trên cho chị G. Hiện tại, chị G có đơn xin bãi nại và không có yêu cầu gì đối với Lợi.
Đối với xe mô tô hiệu Shark biển số 67X1 – 2746, quá trình điều tra xác định: Xe mô tô trên do chị Lý Mỹ Tr, sinh năm 1974; ngụ tại ấp P, xã Đ, huyện A, tỉnh An Giang đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe. Đầu năm 2018, chị Tr cho L mượn xe để làm phương tiện đi lại (chị Tr là cô ruột của L). Ngày 24/6/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một đã giao trả xe mô tô nói trên cho chị Lý Mỹ Tr theo Quyết định xử lý vật chứng số 78 ngày 24/6/2019.
Đối với 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo màu tr ng, quá trình điều tra xác định: Điện thoại trên là công cụ L sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
Cáo trạng số 160/CT-VKS-HS ngày 28/7/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lý Tấn L về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lý Tấn L mức hình phạt từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng đến 30 tháng.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu tr ng đã thu giữ của bị cáo L là phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung nộp vào ngân sách nhà nước.
Bị cáo Lý Tấn L không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Lý Tấn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản b t người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 19/3/2019, Lý Tấn L đã có hành vi đe d a uy hiếp tinh thần bà Đỗ Thị Xuân G để chiếm đoạt số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng của bà G tại khu vực sân bóng đá thuộc đường Huỳnh Thúc Kháng, khu 3, phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương nên hành vi mà bị cáo L thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu đối với tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo còn tr , có sức khỏe nhưng không cố g ng lao động chân chính để nuôi sống bản thân, chỉ vì tham lam, tư lợi mà bị cáo đã bất chấp tất cả, liều lĩnh phạm tội chứng tỏ bị cáo có thái độ xem thường pháp luật. Do đó cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm để trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản đã thu hồi giao trả cho bị hại, bị hại có đơn xin bãi nại; bị cáo có bà Nội tên Nguyễn Thị T được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối chiếu với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo. Xét thấy trong vụ án này, sau khi bị cáo đe d a bị hại để nhận được 02 tấm ảnh không mặc quần áo của bị hại, bị cáo tiếp tục uy hiếp tinh thần bị hại và gây cho bị hại hoang mang, lo sợ và sau đó chiếm đoạt tài sản của bị hại. Chứng tỏa bị cáo có thái độ liều lĩnh, xem thường pháp luật. Mặt khác, hiện nay loại tội phạm này xảy ra nhiều và gây bất ổn cho xã hội. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm kh c, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện. Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Vì vậy, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị cho bị cáo được hưởng treo là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Đỗ Thị Xuân G đã nhận lại tài sản và không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu tr ng đã thu giữ của bị cáo L là phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Các Điều 136, 260 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên bố bị cáo Lý Tấn L phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
1./ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lý Tấn L 01 (Một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b t bị cáo thi hành án; được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/3/2019 đến ngày 29/3/2019.
2./ Về biện pháp tư pháp: Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Oppo màu tr ng (không kiểm tra chi tiết tình trạng hoạt động).
(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 171.19 ngày 27/8/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một).
3./ Về án phí: Buộc bị cáo Lý Tấn L phải nộp 200.000đ.
Bị cáo Lý Tấn L được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án v ng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Công an thành phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một; - Sở Tư Pháp tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP | TM HỘI Đ NG X T X Ơ TH M TH M PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy inh |