vanban.org

Bản án 154/2018/HSST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố bị cáo Lê Đình C phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

2- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Đình C 08 (tám) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đình C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố bị cáo Lê Đình C phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 154/2018/HSST
Ngày : 21/6/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Tất Trình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hùynh Tiến Dũng

Bà Nguyễn Thị Lượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quang Lâm – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Giầu - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 119/2018/HSST ngày 18/5/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2018/QĐXXST-HS ngày 29/5/2018 đối với bị cáo:

LÊ ĐÌNH C, giới tính: Nam; sinh: 02/02/1988; nơi sinh: tại T; thường trú: xã P, huyện N, tỉnh T; cư trú: Không nơi cư trú nhất định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: thợ hồ; con ông Lê Đình Đ và bà Lê Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; tạm giam: 31/01/2018 (có mặt).

Bị hại: Anh Phạm Văn T sinh: 1992

Cư trú: phường H, quận T, Tp.Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 31/01/2018, Lê Đình C đi bộ một mình trên đường V thuộc phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh, để tìm tài sản sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền sử dụng ma túy. Khi đi đến trước nhà số 240-242 đường V, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh, C phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, biển số 81T5-1265 của anh Phạm Văn T dựng ở lề đường trước chốt bảo vệ công trình xây dựng trung tâm thương mại Gmall, số 240-242, không có người trông coi, C đi đến và cầm cây đoản mang theo sẵn, bẻ phá khóa xe thì bị bảo vệ của công trình xây dựng phát hiện, đuổi theo bắt giữ C cùng tang vật, chuyển giao công an phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, lập biên bản phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.

Ngày 08/02/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức ra Quyết định khởi tố vụ án và bị can đối với Lê Đình C về tội “Trộm cắp tài sản”.

Kết luận định giá tài sản số 36 ngày 06/02/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thủ Đức, kết luận: 01 chiếc xe mô tô biển số 81T5-1265, trị giá: 5.000.000đ.

Vật chứng vụ án:

- 01 xe mô tô biển số 81T5-1265 (đã trả cho bị hại);

- 01 đầu đoản hình chữ L, 01 đoản sắt dài 07cm.

Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.

Tại bản Cáo trạng số 129/CT- VKS ngày 16/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức đã truy tố bị cáo Lê Đình C về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đề nghị áp dụng điều luật đã truy tố, điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 đến 12 tháng tù, xử lý vật chứng vụ án theo quy định.

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức đã truy tố, nhìn nhận trách nhiệm của mình, tỏ thái độ ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định: Ngày 31/01/2018, tại công trình xây dựng, địa chỉ số 240-242 đường V, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh, bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, biển số 81T5-1265 của anh Phạm Văn T, tài sản chiếm đoạt giá trị 5.000.000đ. Do đó có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào “Tội trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định trừng trị tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi phạm tội của mình sẽ bị pháp luật nghiêm trị, nhưng vẫn phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện xem thường sự trừng phạt của pháp luật. Việc truy tố bị cáo về “Tội trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 và sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả cho bị hại, chưa gây thiệt hại, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì, nên không xét.

- 01 chiếc đoản sắt hình chữ L và 01 đoản sắt dài 07cm, là công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1- Tuyên bố bị cáo Lê Đình C phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

2- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

- Xử phạt bị cáo Lê Đình C 08 (tám) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2018.

3-Áp dụng Khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc đoản sắt hình chữ L và 01 đoản sắt dài 07cm.

(Phiếu nhập kho số 125 ngày 15/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức)

4- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án để Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án. Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT X S THẨM

- TAND TP.HCM;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

- Sở Tư pháp TP.HCM;

- VKSND Tp.Hồ Chí Minh;

- VKSND quận Thủ Đức;

- Cơ quan CSĐT Công an quận Thủ Đức;

(đã ký tên và đóng dấu)

- Nhà tạm giữ Công an quận Thủ Đức;

- Cơ quan THA.HS Công an quận Thủ Đức;

- Chi cục THA.DS quận Thủ Đức;

- Bị cáo, bị hại;

- Lưu: Hồ sơ, VT.

Vũ Tất Trình TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN THỦ ĐỨC

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

----------   ----------------   ------Thụ lý số : 02/2008/HSST Ngày : 02/01/2008

TRÍCH LỤC BẢN ÁN HÌNH SỰ

Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 36/2008/HSST ngày 25/01/2008 đối với bị cáo:

VÕ VĂN KHOA

Sinh năm 1984; tại: Phú Yên

Thường trú: Thôn Lộc Giang, Xã Sơn Giang, Huyện Sông Hinh, Tỉnh Phú Yên.

Tạm trú: 26/35 Ấp Bình Đường 1, Xã An Bình, Huyện Dĩ An, Tỉnh Bình Dương.

Trình độ học vấn: 12/12;

Nghề nghiệp: Công nhân

Họ tên cha: Võ Kinh – sinh năm 1943

Họ tên mẹ: Lê Thị Cúc – sinh năm 1950

Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con

Tiền sự : không;

Tiền án: không;

Bị bắt giữ : ngày 26/10/2007 (có mặt tại phiên tòa).

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC

ĐÃ QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Võ Văn Khoa phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

- Áp dụng khoản 1 điều 138 ; điểm g, h, p khoản 1 điều 46; điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999;

Xử phạt:

Bị cáo Võ Văn Khoa 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án 25/01/2008.

- Ap dụng khoản 4 điều 227 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.

+ Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Võ Văn Khoa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo cho UBND Xã An Bình, Huyện Dĩ An, Tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

- Áp dụng điểm b khỏan 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự

+ Trả lại cho bị cáo Võ Văn Khoa chiếc xe môtô hiệu Wave biển số 78N2 – 1338

(phiếu nhập kho vật chứng số 62/THA ngày 02/01/2008 của Thi hành án dân sự Quận Thủ Đức).

Bị cáo chịu 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo bản án để xin Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm; riêng người bị hại vắng mặt, thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết.

(Đã giải thích chế độ án treo)

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC

TM. Hội đồng xét xử

Cỡ chữ