- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ca Van P - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cà Văn P phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 154/2018/HSST Ngày: 23-10 - 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tòng Văn Bình, bà Lường Thị Khuyển.
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Điệp, thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 164/2018/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2018/HSST-QĐ ngày 12 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo sau đây:
Họ và tên: Cà Văn P, sinh 1993; nơi ĐKHKTT: Bản C, xã M, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; Chức vụ, đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 6/12; con ông: Cà Văn B (đã chết); con bà: Lò Thị D; vợ: Cầm Thị D có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2018 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 30 ngày 17/7/2018, Tổ công tác công an huyện Sông Mã phối hợp với Ban công an xã M, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ tại bản N, xã M, huyện Sông Mã phát hiện bắt quả tang Cà Văn P có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ tại tay trái của Phớ 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa 198 viên nén hình tròn màu hồng và 02 viên nén hình tròn màu xanh - theo P khai nhận là viên hồng phiến. Ngoài ra, còn tạm giữ của Phớ 01 điện thoại di động hiệu GIONEE và 01 xe mô tô hiệu Honda BLADE BKS 26B2-136.54.
Ngày 23/7/2018, tại Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng và trích mẫu giám định. Kết quả: 198 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh thu giữ của Cà Văn P có tổng khối lượng 19,90 gam, đã trích 05 viên màu hồng có khối lượng 0,50 gam làm mẫu giám định ký hiệu P1 và 02 viên màu xanh có tổng khối lượng 0,20 gam làm mẫu giám định ký hiệu P2. Vật chứng còn lại 193 viên hình tròn màu hồng có tổng khối lượng 19,20 gam ký hiệu P3.
Tại kết luận giám định số: 905/KLMT ngày 29/7/2018 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
- Mẫu gửi giám định ký hiệu P1 là chất ma tuý; loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,50gam.
- Không tìm thấy chất ma tuý trong mẫu gửi giám định ký hiệu P2; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,20gam.
Quá trình Điều tra xác định được như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 17/7/2018, trong khi đang soi bắt chuột tại khu vực đầu bản C, giáp danh với bản Bua X thuộc xã M, huyện Sông Mã thì Cà Văn P gặp một người đàn ông không quen biết đi xe máy đến hỏi mượn bật lửa để hút thuốc. Do trời mưa to nên cả hai người vào một lán nương gần đó trú mưa. Tại lán nương, người đàn ông lấy viên hồng phiến ra sử dụng bằng hình thức đốt hít, sau đó người đàn ông lấy tiếp ra 02 viên hồng phiến mời P sử dụng cùng. Sử dụng xong ma tuý người đàn ông đặt vấn đề muốn thuê P mang gói hồng phiến từ bản C đến ngã tư Y cùng xã M (khoảng cách 4 km) hứa trả công 200.000VNĐ, P đồng ý. Người đàn ông đưa cho P 01 gói nilon màu xanh nói bên trong có 50 viên hồng phiến, P cầm lấy nhưng không mở ra kiểm đếm, sau đó người đàn ông đó đi về. Một lúc sau, P cầm gói hồng phiến ở tay trái rồi điều khiển xe đi đến chỗ hẹn, khi P đi đến khu vực bản N, xã M thì bị tổ công tác công an huyện Sông Mã bắt quả tang.
Cáo trạng số: 127/CT-VKSSM ngày 03 tháng 10 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố Cà Văn P về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý, theo điểm h khoản 2 Điều 250 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm Sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 2 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo từ 09 đến 10 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện, chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo cùng các chứng cứ khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra; phù hợp với nội dung, tội danh bản Cáo trạng; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với biên bản phạm tội qủa tang, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, bị cáo hoàn toàn nhất trí và không tranh luận với Kiểm sát viên, ý kiến cuối cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.
Do mắc nghiện ma tuý, nên bị cáo đã nhận vận chuyển ma tuý hộ người khác để hưởng tiền công thì bị bắt quả tang, tang vật thu giữ được có khối lượng 19,90 gam Methamphetamine.
Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở để kết luận: Cà Văn P đã phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 250 Bộ luật hình sự . Do đó, khởi tố của cơ quan Điều tra và Truy tố tội phạm của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy; gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo nghiêm khắc, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng; tại cơ quan Điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được pháp luật quy định, cần áp dụng cho bị cáo được hưởng.
Về số ma tuý thu giữ được trong vụ án: Bị cáo khai vận chuyển hộ một người đàn ông không quen biết, nên cơ quan Điều tra không có căn cứ để mở rộng vụ án là có căn cứ, cần chấp nhận.
Đối với chiếc xe mô tô là phương tiện bị cáo dùng vận chuyển trái phép chất ma tuý, xác định được là tài sản chung của gia đình nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp, cần chấp nhận.
Vật chứng vụ án: Còn lại 19,20 gam ma tuý, 01 mảnh giấy nilon màu xanh và phong bì niêm phong ban đầu là vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động tạm giữ của bị cáo là vật không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại.
Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có giấy chứng nhận hộ nghèo nên được xem xét miễn hình phạt bổ sung và án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Cà Văn P phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự .
Xử phạt: Cà Văn P 09(Chín) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày (28/7/2018).
2. Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu để tiêu hu : 01 (một) phong bì thư được niêm phong mặt trước ghi: “Vật chứng còn lại vụ Cà Văn P SN: 1993 chỗ ở: Bản C, xã M, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Hành vi Vận chuyển trái phép chất ma tuý gồm: P3-19,20 gam, 01 vỏ gói Nilon màu xanh và 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở” Mặt sau phong bì dán giấy niêm phong đè lên các dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đẩy đủ chữ ký, họ tên của thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt và 02 hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT – Công an huyện Sông Mã.
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu GIONEE, màu đen, số imei: 865747020178000, màn hình điện thoại bị vỡ, điện thoại đã cũ và qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/9/2018 gi a Chi cục thi hành án dân sự - Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Toà án tỉnh; -VKS huyện; -Thi hành án hình sự; -Thi hành án dân sự; -Bị cáo; -Sở tư pháp tỉnh; -Lưu HS; -Lưu VP. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lƣờng Văn Quyết |