vanban.org

Bản án 154/2018/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 04/07/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/07/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp về dân sự - lối đi qua bất động sản liền kề"
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 154 /2018/DS-PT
Ngày: 04-07-2018
“Tranh chấp về dân sự - yêu
cầu mở lối đi qua bất động
sản liền kề”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngu n Thị Võ Trinh

Các Thẩm phán:

Bà Ngu n Thị Mai;

Ông Huỳnh Thanh Mỹ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngu n Thị Mộng Tu ền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh: Bà Phạm Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 27 tháng 6 và ngày 04 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Tỉnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2017/TLPT-DS ngày 25 tháng 01 năm 2018, về việc “Tranh chấp về dân sự - Yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 82/2017/D - T ngà 15 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân hu ện L bị kháng cáo;

Theo Qu ết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 93/2018/TLPT-DS ngày 09 tháng 3 năm 2018, giữa:

- Nguyên đơn: Ông Hồ Tấn N, sinh năm 1940.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Hồ Tấn N là: Chị Hồ Thị Ngọc T sinh năm 1974; Địa chỉ: Số 89, ấp H, xã T, Hu ện L, Tỉnh Đồng Tháp;

Người tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Hồ Tấn N là: Bà Ngu n Thị Kim L - là luật sư của Văn phòng Luật sư K thuộc Đoàn luật sư Tỉnh Đồng Tháp;

- Bị đơn: Ông Hồ Minh L, sinh năm 1963;

Địa chỉ: số 188, ấp H, xã T, hu ện L, Tỉnh Đồng Tháp;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Chị Hồ Thị Ngọc X, sinh năm 1967;

2/ Anh Hồ Tấn V , sinh năm 1969;

Người đại diện theo ủy quyền của chị Xuyến, anh Vị: Chị Hồ Thị Ngọc T sinh năm 1974; Cùng địa chỉ: Số 89, ấp H, xã T, hu ện L, Tỉnh Đồng Tháp;

3/ Bà Ngu n Thị M, sinh năm 1966;

Địa chỉ: Số 188, ấp H, xã T, hu ện L, Tỉnh Đồng Tháp;

- Người kháng cáo: Ông Hồ Tấn N, là ngu ên đơn.

NỘI D NG V ÁN

1. Ngu ên đơn ông Hồ Tấn N có chị Hồ Thị Ngọc T là người đại diện theo ủ qu ền trình bày:

Vào ngày 05/9/2012, hộ ông Hồ Tấn N được cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất thửa 17, tờ bản đồ số 9 và giáp thửa đất số 17 của hộ ông N đứng tên là thửa đất số 494a, tờ bản đồ số 01 do hộ ông Hồ Minh L đứng tên qu ền sử dụng, cả hai thửa đất tọa lạc tại ấp H, xã T, hu ện L, tỉnh Đồng Tháp. Thửa đất số 17 của ông N bị bao vâ bởi các phần đất liền kề của các chủ sử dụng khác, trong đó có thửa đất số 494a do hộ ông L đứng tên qu ền sử dụng. Ông N và cha của ông L là ông Hồ Minh L1 (đã chết) là anh em chú bác ruột, đất ông N và đất ông L đều có nguồn gốc của ông bà để lại. Từ rất lâu, khi ông N còn ở căn nhà thuộc thửa đất số 17 trên, để đi ra tỉnh lộ 848 thì ông N và gia đình ông N có sử dụng lối đi trên đất của ông L1, na là thửa đất số 494a của hộ ông L. Đến khoảng năm 2000, căn nhà ông N hư hỏng nên ông N cùng gia đình đến nơi khác ở, không còn sử dụng căn nhà trên thửa đất 17 cho đến năm 2016 và cũng từ năm 2000 ông N không sử dụng lối đi nà thường xu ên nữa, mà thỉnh thoảng khi ông N và gia đình đến thăm đất thì có sử dụng lối đi trên phần đất của ông L. au đó, ông L xâ dựng quán, nhà vệ sinh, làm bờ kè cặp rạch Xưởng trên phần đất của mình, bao gồm phần lối đi trước đó mà gia đình ông N sử dụng, nên ông N phải đi nhờ lối đi trên đất của ông T1 (có đất giáp ranh với thửa 17), na ông T1 đã rào lối đi và không cho ông N đi nhờ nữa. Năm 2016, ông N sửa chữa căn nhà trên thửa đất 17, nhưng chưa có lối đi nên không ai ở trong ngôi nhà đó. Na ông N êu cầu được qu ền sử dụng lối đi có diện tích 79,7m2 đất tính từ điểm M1 đến M2 đến M3 đến M4 đến M5 đến M6 đến M7 đến M8 theo sơ đồ đo đạc phần đất tranh chấp giữa ông L và ông N được ký du ệt ngà 22/6/2016 của Văn phòng đăng ký qu ền sử dụng đất hu ện L, thuộc một phần thửa đất số 494a, tờ bản đồ số 01 do hộ ông Hồ Minh L đứng tên qu ền sử dụng và ông N đồng ý trả giá trị đất, tài sản có trên đất cho ông L theo giá Nhà nước qu định. Ông N thống nhất giá trị đất và tài sản có trên đất tranh chấp như biên bản định giá tài sản ngà 26/4/2016.

Để chứng minh cho êu cầu của ngu ên đơn là có căn cứ và hợp pháp, thì người đại diện hợp pháp của ngu ên đơn cho rằng lối đi mà ông N đang êu cầu sử dụng nằm trên thửa đất số 494a của ông L là lối đi từ trước đến na do ông bà để lại, về lối đi phía bên đất của ông T1 và những người khác là đất do họ nhận chu ển nhượng nên khó khăn cho việc đi lại của hộ ông N nếu những người nà không đồng ý cho ông N được qu ền sử dụng lối đi. Ông N không yêu cầu gì đối với bà Ngu n Thị M, là thành viên trong hộ khẩu của ông L.

2. Bị đơn ông Hồ Minh L trình bày:

Ông Hồ Minh L thống nhất với ông N về nguồn gốc đất đang tranh chấp, về mối quan hệ giữa ông L với ông N. Ngà 13/8/2001, hộ ông L được Nhà nước cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất thửa đất số 494a và thửa đất nà giáp ranh với thửa đất số 17 của ông N như người đại diện hợp pháp của ông N trình bày. Trước đâ , khi cha ông L còn sống thì gia đình ông N có đi nhờ trên thửa đất số 494a của ông L hiện na để đi ra tỉnh lộ 848. Khoảng năm 2000, gia đình ông N không còn sử dụng căn nhà trên thửa đất 17 mà đến nơi khác sinh sống, nên ông N cùng gia đình không còn đi nhờ trên đất của ông L. Thỉnh thoảng, ông N cùng gia đình đến thăm vườn tại thửa đất số 17 thì đi nhờ lối đi trên phần đất của ông T1và lối đi nà có nhiều hộ gia đình cùng sử dụng. Na ông L không đồng ý để ông N được qu ền sử dụng lối đi có diện tích là 79,7m2 đất, thuộc một phần của thửa đất số 494a, tờ bản đồ số 01 do hộ ông Hồ Minh L đứng tên qu ền sử dụng theo êu cầu của ông N. Vì theo ông L, việc ông N sử dụng lối đi của ông Trị sẽ thuận lợi hơn, về phần đất mà ông N đang tranh chấp qu ền về lối đi qua bất động sản liền kề đối với ông L tiếp giáp với tỉnh lộ 848 và rạch xưởng để phục vụ tưới tiêu cho phần đất vườn thuộc thửa 494a cũng như nước sinh hoạt của gia đình ông L. Đồng thời ông L đã xâ dựng bờ kè cặp rạch xưởng làm bến bãi vận chu ển hàng hóa để cho thuê nhằm tạo thu nhập cho gia đình.

Ông L thống nhất giá trị đất và tài sản có trên đất tranh chấp như biên bản định giá tài sản ngà 26/4/2016. Trường hợp Tòa án chấp nhận êu cầu của ông N thì ông L sẽ tự ngu ện di dời tài sản ra khỏi đất tranh chấp mà không êu cầu ông N phải bồi thường ha hỗ trợ chi phí di dời và tại phiên tòa ông L thống nhất giá trị tranh chấp là 100.000 đồng/m2. Qu ền sử dụng đất thửa 494a hiện ông L đang thế chấp tại Ngân hàng N - Chi nhánh hu ện L để va tiền và đến na chưa trả nợ. Tại phiên tòa, ông L cho rằng giữa đất ông Hồ Minh L2 và đất bà Hồ Thị L3 có lối đi thuận tiện cho việc đi lại từ tỉnh lộ 848 đến thửa đất số 17 của ông N, ông N nên thỏa thuận để được sử dụng lối đi nà .

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Hồ Tấn V và chị Hồ Thị Ngọc X ủ qu ền cho chị Hồ Thị Ngọc T trình bày là anh V và chị X là con của ông N, là thành viên trong hộ của ông N. Trong vụ án tranh chấp qu ền về lối đi qua bất động sản liền kề giữa ông N và ông L, thì anh V và chị X không êu cầu gì mà giao cho ông N được toàn qu ền qu ết định. Anh V và chị X thống nhất giá trị đất và tài sản có trên đất tranh chấp như biên bản định giá tài sản ngà 26/4/2016.

- Bà Ngu n Thị M trình bày: Bà là vợ của ông Hồ Minh L, cũng là thành viên trong hộ khẩu của ông L. Trong vụ án tranh chấp qu ền về lối đi qua bất động sản liền kề giữa ông N và ông L thì bà M không êu cầu gì mà giao cho ông L được toàn qu ền qu ết định. Bà M thống nhất với lời trình bà của ông L về giá trị đất, tài sản có trên đất tranh chấp và hướng giải qu ết về tài sản có trên đất tranh chấp.

4. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

41. Không chấp nhận êu cầu của ông Hồ Tấn N về việc "Tranh chấp quyền về mở lối đi qua bất động sản liền kề" với ông Hồ Minh L có diện tích 79,7m2 đất, thuộc một phần thửa đất số 494a, tờ bản đồ số 01 do hộ ông Hồ Minh L đứng tên qu ền sử dụng. Đất tranh chấp tọa lạc tại xã T, hu ện L, tỉnh Đồng Tháp.

4.2. Về án phí: Ông Hồ Tấn N phải chịu 727.500đ án phí dân sự sơ thẩm; nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 265.000đ theo biên lai số 037237 ngà 02 tháng 02 năm 2016 của Chi cục Thi hành án dân sự hu ện L, tỉnh Đồng Tháp. Ông N còn phải nộp thêm 462.500đ.

4.3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền 2.634.000đ (Hai triệu sáu trăm ba mươi bốn nghìn đồng) ông N phải nộp (Ông N đã nộp xong).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tu ên thời hạn, qu ền kháng cáo và qu ền, nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.

5. Ngày 27/12/2017, ông Hồ Tấn N kháng toàn bộ bản án sơ thẩm, êu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, xem xét cho ông N có được lối đi, vì ông N không có lối đi nào khác. Lối đi ông N êu cầu có diện tích là 79,70m2 theo sơ đồ đo đạc ngà 22/6/2016.

6. Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ngu ên đơn vẫn giữ ngu ên êu cầu khởi kiện và êu cầu kháng cáo;

- Bị đơn không đồng ý theo êu cầu của ngu ên đơn;

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng qu định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải qu ết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.

Về nội dung: Đề Nghị Hội đồng xét xử chấp nhận êu cầu kháng cáo của ngu ên đơn. ửa qu ết định của bản án sơ thẩm theo hướng mở lối đi cho phía ngu ên đơn trên phần đất bị đơn. Ghi nhận sự tự ngu ện của ngu ên đơn về việc bồi thường giá trị đất và các vật kiến trúc, câ trồng có trên đất cho bị đơn;

au khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Căn cứ vào êu cầu khởi kiện của ngu ên đơn về việc êu cầu bị đơn mở một lối đi có chiều ngang 1,75m, dài 52m; có diện tích là 79,7m2; theo sơ đồ đo đạc được xác định từ vị trí M1 đến M8 nên Tòa sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là Tranh chấp qu ền qu ền sử dụng đất- về êu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề, phù hợp với qu định tại khoản 9, điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Phần đất mà hai bên đang có tranh chấp tọa lạc tại ấp H, xã T, hu ện L nên Tòa án hu ện L thụ lý giải qu ết là phù hợp với qu định tại khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét êu cầu kháng cáo của ông Hồ Tấn N về việc êu cầu bên bị đơn là ông Hồ Minh L cho mở một lối đi theo đo đạc thực tế có diện tích là 79,7m2 được xác định bởi các mốc (M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8, M1) thuộc một phần thửa 494a tờ bản đồ số 1 do hộ ông L đứng tên trên giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất.

Hội đồng xét xử xét thấ :

- Ông N là ngu ên đơn có phần đất thuộc thửa số 17, tờ bản đồ số 9 có vị trí nằm phía trong thửa 494a tờ bản đồ số 1 do hộ ông L là bị đơn đứng tên qu ền sử dụng đất (tính từ Tỉnh lộ 848 trở vào). Các bên đương sự đều thừa nhận hai thửa đất trên đều có nguồn gốc là của ông bà để lại cho ông N và cha của ông L (ông N và cha ông L là anh em chú bác ruột).

- Theo ông L trình bày, trước đâ gia đình ông N cũng có đi nhờ trên phần đất thuộc qu ền sử dụng của hộ ông từ trước năm 1975 đến năm 2000 thì do nhà ông N bị hư hỏng nên di dời đi nơi khác ở, không còn đi trên phần đất thuộc qu ền sử dụng của ông L; trên phần đất của ông N có 01 căn nhà khung gỗ tạp, mái lợp tole, vách tole, một số câ trồng trên đất và khu mộ của bên gia đình ông N; ông L cho rằng bên ông N còn có lối đi khác thuận tiện hơn. Tu nhiên, căn cứ vào biên bản lấ lời khai ngà 19/4/2018 đối với ông Hồ Minh L2, Hồ Minh L4 và ông Hồ Minh T1 (T1) là những người có phần đất gần đất ông N mà Tòa án cấp sơ thẩm nhận định có thể mở lối đi cho bên ông N thì những đương sự nà có ý kiến không đồng ý cho bên ông N đi và hiện tại trên phần đất của ông T1 (T1), ông L4, ông L2 cũng không có hình thành lối đi thuận tiện để đi vào phần đất của ông N. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận êu cầu của ông N và hộ ông L không đồng ý mở lối đi cho hộ ông N ra Tỉnh lộ là không phù hợp;

- Phần đất mà ông N êu cầu mở lối đi trên phần đất của hộ ông L là phần đất cặp kênh thủ lợi, mặc dù trên thực tế không có hình thành lối mòn, vì sau khi nhà ông N đi nơi khác ở thì ông L trồng câ , xâ dựng vật kiến trúc khác (như nhà vệ sinh) trên phần đất cặp kênh thủ lợi nà làm hạn chế việc đi ra Tỉnh lộ của gia đình ông N. Do đó, việc ông N êu cầu được mở một lối đi ra lộ trên phần đất của hộ ông L là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với qu định tại Điều 254 Bộ luật dân sự;

- Bên ông L do không đồng ý mở lối đi cho bên ông N nên không yêu cầu trả giá trị đất, phần câ trồng, vật kiến trúc trên đất nhưng bên ông N tự ngu ện trả giá trị đất, câ trồng trên đất và giá trị nhà vệ sinh trên phần đất mở lối đi cho bên hộ ông L với số tiền theo giá mà Hội đồng định giá đã định. Hội đồng xét xử xét thấ đâ là sự tự ngu ện của bên ông N và cũng phù hợp pháp luật nên ghi nhận sự tự ngu ện nà . Tu nhiên, phần đất mở lối đi có hiện trạng cặp kênh thủ lợi nên gia đình bên ông L cũng cần sử dụng để lấ nước tưới tiêu cũng như vận chu ển hàng hóa như sơ thẩm đã nhận định. Do đó, phần đất được xác định làm lối đi cho gia đình ông N sẽ là lối đi chung cho cả bên ông L nên bên ông N chỉ có nghĩa vụ trả ½ giá trị đất cho bên ông L.

- Phần đất được xác định làm lối đi chung thuộc một phần thửa 494a tờ bản đồ số 1, theo đo đạc thực tế có diện tích là 79,7m2 loại đất trồng cây lâu năm, thuộc khu vực 1, vị trí 1, có giá trị là 100.000đ/m2;

Do xác định phần đất có diện tích là 79,7m2 thuộc một phần thửa 494a tờ bản đồ số 1 là lối đi chung của bên ông N và bên ông L; nên ông N có nghĩa vụ trả ½ giá trị đất cho bên ông L với số tiền là 3.985.000đồng;

Ngoài ra, bên ông N còn tự ngu ện trả giá trị câ trên phần đất được mở lối đi cho bên ông L với tổng số tiền là 1.180.000đồng (bao gồm: 01 cây gừa, 01 câ tràm, 01 câ bưởi, 02 câ khế, 05 câ chuối, 01 câ mận, 01 câ mít); trả giá trị nhà vệ sinh là 4.790.389đồng; trả giá trị phần sân là 1.791.238đồng. Như vậ , tổng số tiền mà hộ ông N tự ngu ện trả giá trị cho hộ ông L là 11.746.627đồng;

Buộc ông L, bà Màu có nghĩa vụ di dời (phá dở) 01 nhà vệ sinh có diện tích 3,06m2 (nhà vệ sinh có kết cấu: Vách tường không tô, mái phirô xi măng, nền lát gạch men, cửa thiếc, bên trong ốp gạch men cao 1,2m, xâ dựng năm 2010); di dời phần sân và phần câ trồng có trên phần đất mở lối đi thuộc một phần thửa 494a, tờ bản đố số 1 do hộ ông L đứng tên qu ền sử dụng đất.

- Đối với giấ chứng nhận qu ền sử dụng của ông L tại thửa 494a tờ bản đồ số 1, hiện hộ ông L đang thế chấ va tại Ngân hàng N - Chi nhánh hu ện L để va tiền. Tòa án đã có thông báo cho Ngân hàng biết việc tranh chấp nhưng Ngân hàng có văn bản không có êu cầu và không tham gia tố tụng nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét, giải qu ết.

- Xét lời trình bà và đề N của người tham gia bảo vệ qu ền và lợi ích hợp pháp cho ngu ên đơn là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận;

- Xét lời trình bà và đề N của đại diện Viện Kiểm át là phù hợp;

Từ những phân tích trên nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấ cần sửa án sơ thẩm, chấp nhận êu cầu kháng cáo của ngu ên đơn;

Do sửa án sơ thẩm nên ông N không phải chịu án phí kháng cáo.

Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng N có hiệu lực pháp luật kể từ ngà hết thời hạn kháng cáo, kháng N.

V các l trên

Q YẾT ĐỊNH:

Căn cứ điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 điều 203 Luật đất đai; Điều 254 Bộ luật dân sự; Điều 48 - N qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ngà 30/12/2016 của Ủ ban thường vụ Quốc hội qu định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận êu cầu kháng cáo của ông Hồ Tấn N;

2. ửa bản án dân sự sơ thẩm số 82/2017/D - T ngà 15/12/2017 của Tòa án nhân dân hu ện L;

- Chấp nhận êu cầu mở lối đi của hộ ông N (gồm ông Hồ Tấn N, Hồ Thị Ngọc X, Hồ Tấn V) trên phần đất của hộ ông L (gồm ông Hồ Minh L, bà Ngu n Thị M) có diện tích theo đo đạc thực tế là 79,7m2 được xác định bởi các mốc (M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8, M1), loại đất trồng cây lâu năm, thuộc một phần thửa 494a tờ bản đồ số 1 do hộ ông Hồ Minh L đứng tên trên giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất.

- Xác định diện tích 79,7m2 tại các mốc (M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8, M1), loại đất câ lâu năm, thuộc một phần thửa 494a tờ bản đồ số 1 là lối đi chung của hộ ông Hồ Tấn N và hộ ông Hồ Minh L cùng sử dụng.

- Ghi nhận sự tự ngu ện của hộ ông N (gồm ông Hồ Tấn N, Hồ Thị Ngọc X, Hồ Tấn V) đồng ý trả cho hộ ông L (gồm ông Hồ Minh L, bà Ngu n Thị M) ½ giá trị đất; giá trị nhà vệ sinh; giá trị sân và giá trị câ trồng trên đất với tổng số tiền là 11.746.627đồng (Mười một triệu bả trăm bốn mươi sáu nghìn sáu trăm hai mươi bả đồng);

- Buộc ông L, bà Màu có nghĩa vụ di dời (phá dở) 01 nhà vệ sinh có diện tích 3,06m2 (nhà vệ sinh có kết cấu: vách tường không tô, mái phirô xi măng, nền lát gạch men, cửa thiếc, bên trong ốp gạch men cao 1,2m, xây dựng năm 2010); di dời phần sân và phần câ trồng có trên phần đất mở lối đi thuộc một phần thửa 494a, tờ bản đố số 1 do hộ ông Hồ Minh L đứng tên qu ền sử dụng đất.

Các bên đương sự được qu ền đến cơ quan Nhà nước có thẩm qu ền để đăng ký, điều chỉnh qu ền sử dụng đất theo qu định pháp luật;

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông N phải chịu 587.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm; được khấu trừ vào 265.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 037237 ngày 02/02/2016; như vậ , ông N còn phải nộp tiếp số tiền 322.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Về chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản;

Ông N tự ngu ện chịu tiền chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản với số tiền là 2.634.000đ; (số tiền này ông N đã nộp xong);

3. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Ông N được nhận lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000đồng theo biên lai số 02168 ngà 27/12/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự hu ện L;

Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng N có hiệu lực pháp luật kể từ ngà hết thời hạn kháng cáo, kháng N.

Trong trường hợp bản án, qu ết định được thi hành theo qu định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có qu ền thỏa thuận thi hành án, qu ền êu cầu thi hành án, tự ngu ện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qu định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo qu định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngà tu ên án./.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- Phòng GĐ-KT TAND Tỉnh;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VK ND Tỉnh;

- TAND H. L;

- Chi cục THAD H. L;

- Đương sự;

- Lưu: VT, H VA, TD .

Nguyễn Thị Võ Trinh

Q YẾT ĐỊNH

Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng N có hiệu lực pháp luật kể từ ngà hết thời hạn kháng cáo, kháng N.

Trong trường hợp bản án, qu ết định được thi hành theo qu định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có qu ền thỏa thuận thi hành án, qu ền êu cầu thi hành án, tự ngu ện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qu định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo qu định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngà tu ên án./.

Cỡ chữ