- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1539/2021/HN-ST Ngày: 07/ 6/2021 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Hải Y
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị C
2. Ông Cao Quốc H
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu P – Cán bộ Tòa án nhân dân thành
phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên
tòa: Ông Hoàng K - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ
Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông
thường, vụ án thụ lý số 514/2020/TLST-HN ngày 03 tháng 12 năm 2020 về ly
hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1893/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày
20 tháng 4 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 2554/2021/QĐST –
HNGĐ ngày 13/5/2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1994
Địa chỉ: Số X đường số Y, KPZ, phường L, thành phố Thủ Đức, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1992
Địa chỉ: Số A đường số Y, KPZ, phường L, thành phố Thủ Đức, Thành phố
Hồ Chí Minh.
(Bà T xin vắng mặt, ông Q vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản khác, nguyên đơn là bà
Phạm Thị T trình bày: bà và ông Nguyễn Hữu Q tự nguyện kết hôn năm 2018.
Ông bà có 01 con chung tên Nguyễn Thị Quỳnh N (nữ), sinh ngày 05/11/2017.
Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do có nhiều bất đồng trong quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, vợ chồng không còn quan tâm tới nhau. Nay nhận thấy hôn nhân không có hạnh phúc, bà yêu cầu được giải quyết ly hôn. Tài sản chung bà không yêu cầu giải quyết. Con chung bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng. Ngoài ra, bà T cũng đề nghị được xét xử vắng mặt.
Ông Nguyễn Hữu Q đã được tống đạt hợp lệ nhưng không đến tòa theo
giấy triệu tập do đó không có lời khai tại tòa. Tại phiên tòa ông cũng vắng mặt nên không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan
điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng
xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà T khởi kiện yêu
cầu được ly hôn với ông Q nên xác định là quan hệ tranh chấp về việc ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Thủ Đức nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
Về việc vắng mặt của các đương sự: Bà Phạm Thị T là nguyên đơn
vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Bộ luật Tố tụng Dân sự, quyết định xét xử vắng mặt bà T.
Ông Nguyễn Hữu Q là bị đơn đã được Tòa án xác minh nơi cư trú, theo
kết quả trả lời xác minh của Công an phường L, thành phố Thủ Đức cho biết hiện nay ông Q có hộ khẩu thường trú và có thực tế cư trú tại địa chỉ số A đường số Y, khu phố Z, phường L, thành phố Thủ Đức. Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành tống đạt triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa hôm nay nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, quyết định xét xử vắng mặt ông Q.
Xét yêu cầu của nguyên đơn như sau:
Bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Hữu Q tự nguyện kết hôn và có đăng ký
kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 51 ngày 09/4/2018 của Uỷ ban nhân dân phường L, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nên xác định hôn nhân của bà T và ông Q là hợp pháp. Bà T trình bày, trong thời gian chung sống với ông Q do có nhiều bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi
vã, không quan tâm đến nhau. Mặc dù lời khai này của bà T không được đối
chất với ông Q nhưng trong suốt quá trình Tòa án thụ lý đơn ly hôn của bà T đến
nay đã gần 06 tháng nhưng ông Q không chấp hành giấy triệu tập của Tòa, cũng
không có bất cứ ý kiến nào gửi cho Tòa án về yêu cầu ly hôn của bà T. Điều này
vừa chứng tỏ ông Q không tôn trọng quy định của pháp luật, không chấp hành
yêu cầu triệu tập của Tòa án, vừa thể hiện ý thức không quan tâm, coi trọng hôn
nhân của chính bản thân ông. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến
hành xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương nơi bà T và ông Q chung
sống, theo kết quả trả lời xác minh của Ủy ban nhân dân phường L, thành phố
Thủ Đức cho biết trong quá trình chung sống tại địa chỉ số A đường số Y, khu
phố Z, phường L, thành phố Thủ Đức, bà T và ông Q có xảy ra mâu thuẫn hay
không thì Ủy ban không ghi nhận và không rõ có mâu thuẫn hay không. Do ông
Q vắng mặt nên Hội đồng xét xử xem xét ý kiến phía bà T đưa ra. Từ những
nhận định trên cho thấy mối quan hệ hôn nhân của bà T và ông Q đã trở nên
trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn quan tâm,
chăm sóc cho nhau, bà T đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không
hàn gắn được do đó yêu cầu ly hôn của bà T là có cơ sở để chấp nhận.
Ghi nhận bà T và ông Q có 01 con chung tên Nguyễn Thị Quỳnh N (nữ),
sinh ngày 05/11/2017. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và
giáo dục con chung cho đến khi trưởng thành, hiện nay con chung còn nhỏ nên
cần được sự chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp của mẹ nên yêu cầu của bà T là có
cơ sở chấp nhận. Ghi nhận việc bà T không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.
Ông Q được quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi
của con, người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.
Tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử
không xem xét.
Về án phí: Bà T chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp
luật, ông Q không phải chịu án phí.
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với
tài liệu chứng cứ cũng như quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng
xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 243, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015;
- Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật
Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Phạm Thị T. Bà Phạm Thị T
được ly hôn với ông Nguyễn Hữu Q.
Giấy chứng nhận kết hôn số 51 ngày 09/4/2018 của Uỷ ban nhân dân
phường L, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý.
2. Giao con chung tên Nguyễn Thị Quỳnh N (nữ), sinh ngày 05/11/2017
cho bà Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi trưởng thành. Ghi nhận việc bà T không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.
Ông Q được quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi
của con, người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.
Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi
dưỡng con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được
sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trưc tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc
gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con
thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo qui
định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết trong vụ án này.
4. Về án phí:
Bà Phạm Thị T phải chịu án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng
được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0028255 ngày 03 tháng 12 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà T đã nộp đủ án phí. Ông Nguyễn Hữu Q không phải chịu án phí.
Các bên thi hành án tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết theo quy định của Bộ
luật Tố tụng Dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - VKSND Tp.Thủ Đức; - THADS Tp. Thủ Đức; - UBND P.Bình Trưng Tây, Tp. Thủ Đức; - Các đương sự; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Đặng Thị Hải Yến |