vanban.org

Bản án 1538/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Lê Hùng P yêu cầu ly hôn chị Võ Thị N"
  • Tòa quyết gì? 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1538/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 09/9/2019.
V/v ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bính Thân

2. Bà Nguyễn Kim Yến

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thương - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình

Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà

Hoàng Thị Ngọc – Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:

317/2019/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo

Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 273/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm

2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 205/2019/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm

2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lê Hùng P, sinh năm 1994

Địa chỉ: Xóm H, xã T, thành phố A, tỉnh Hà Tĩnh.

(Có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Chị Võ Thị N, sinh năm 1995

Địa chỉ: Xóm H, xã T, thành phố A, tỉnh Hà Tĩnh

Tạm trú: Đường B, Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/01/2019 và các bản tự khai, nguyên đơn, Anh Lê

Hùng P trình bày: Tôi và chị Võ Thị N tự nguyên kết hôn vào năm 2016, có tổ chức

đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố A, tỉnh Hà Tĩnh,

Giấy chứng nhận kết hôn số 24/2016 ngày 18/5/2016. Thời gian đầu vợ chồng sống tại

nhà cha mẹ tôi và có cuộc sống gia đình hạnh phúc. Đến cuối năm 2016 thì phát sinh

mâu thuẫn, nguyên nhân là chúng tôi không có tiếng nói chung trong việc nuôi dạy con,

về quản lý kinh tế gia đình, dẫn đến tình cảm rạn nứt, không còn quan tâm đến tâm tư

tình cảm của nhau. Thực tế chúng tôi đã sống ly thân từ tháng 3/2017 đến nay, chị Nga

bỏ vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống.

Nay tôi nhận thấy không còn tình cảm với chị N, cuộc sống chung không hạnh

phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chị N.

Trong quá trình chung sống, chúng tôi có 01 con chung tên Lê Khánh A, sinh

ngày 15/9/2016. Khi ly hôn đồng ý giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng và tôi cấp dưỡng nuôi con 1.500.000đ/tháng cho đến khi con chung trưởng thành. Chúng tôi không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn, Chị Võ Thị N trình bày tại bản tự khai: Việc kết hôn, chung sống và con

chung như anh P trình bày đúng. Về mâu thuẫn: Do anh P luôn say xỉn và đánh đập tôi ngay cả khi tôi mang thai và sinh con, việc này xảy ra kéo dài nên tôi đã đề nghị ly thân, tôi đã đưa con gái đến Thành phố Hồ Chí Minh sống từ tháng 5/2017 cho đến nay. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, nhưng vì tôi là người Công giáo nên tôi không đồng ý ký đơn ly hôn. Nếu anh P đơn phương ly hôn thì tôi yêu cầu được nuôi chung tên Lê Khánh A, sinh ngày 15/9/2016, việc cấp dưỡng tùy vào khả năng của anh Phong. Về tài sản: Tôi và anh P sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng

cứ và hòa giải.

Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn: Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu về việc chấp hành

đúng quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự của thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và xác định: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56, Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình đề nghị Tòa

án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra

tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Căn cứ vào lời khai của đương sự thì giữa các bên đã phát

sinh quan hệ tranh chấp “Ly hôn”. Xét việc khởi kiện của Anh Lê Hùng P phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục tố tụng: Xét bị đơn, Chị Võ Thị N đã được tống đạt hợp lệ Thông

báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt trong các buổi xét xử của Tòa án. Căn cứ

Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến

hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Căn cứ vào đăng ký kết hôn số 24/2016 ngày 18/5/2016 của Ủy ban nhân dân xã

T, thành phố A, tỉnh Hà Tĩnh thì quan hệ hôn nhân giữa anh Lê Hùng P và chị Võ Thị

N là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và Gia

đình nên được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của nguyên đơn, anh Lê Hùng Phong thì mâu

thuẫn giữa anh P và chị N phát sinh từ cuối năm 2016, do vợ chồng không tìm được

tiếng nói chung trong cách nuôi dạy con, về tài chính cũng như về cách sống của nhau.

Mâu thuẫn kéo dài đến tháng 5/2017 thì chị N dẫn con chung vào Thành phố Hồ Chí

Minh sinh sống cho đến nay.

Theo lời khai của Chị N, do anh P thường xuyên say xỉn, đánh đập chị N, do

không thể chịu đựng được chị đã chủ động yêu cầu sống ly thân và dẫn con gái vào

Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống.

Tòa án đã triệu tập Chị N tham gia các buổi hòa giải đoàn tụ tại Tòa án nhưng

Chị N vẫn vắng mặt không lý do, như vậy có căn cứ cho thấy bị đơn không thực sự

muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình.Tình trạng mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn kéo

dài, trầm trọng, hai bên không còn chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được.

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình 2014, Hội đồng xét xử nhận

thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở được chấp nhận.

Về con chung: Chị N và anh P có 01 con chung tên Lê Khánh An, sinh

ngày 15/9/2016, trẻ A hiện sống cùng Chị NNga. Anh P đồng ý giao con chung cho

Chị Nga trực tiếp nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi con 1.500.000đ/tháng cho đến

khi con chung trưởng thành. Yêu cầu này của anh P được Chị N đồng ý nên được Hội

đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh P khai không có nên không yêu cầu

Tòa án giải quyết, chị N khai có tài sản chung nhưngvợ chồng tự thỏa thuận không yêu

cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Anh P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ và

án phí cấp dưỡng là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271 và Điều

273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 56, 58, 63, 81, 82, 84, 107, 116 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Điều 26 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014);

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, Anh Lê Hùng Phong.

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Hùng P được ly hôn Chị Võ Thị N.

- Về con chung: Giao con chung tên Lê Khánh A, sinh ngày 15/9/2016 cho chị

Võ Thị N trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 1.500.000 đồng/tháng

cho đến khi con chung trưởng thành. Việc cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 30 dương lịch hàng tháng, bắt đầu thực hiện vào ngày 30/9/2019, thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai

được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định có

thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí sơ thẩm: Anh Lê Hùng P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ

thẩm là 300.000đ và án phí cấp dưỡng là 300.000đ, số tiền này được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí, lệ phí Anh P đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0020344 ngày 14/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Anh P còn phải nộp thêm 300.000đ, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo: Anh Lê Hùng P và Chị Võ Thị N được quyền kháng cáo

trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi

hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án,người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ