- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Ngô Hoàng L.
- Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1533/2022/HNGĐ-ST Ngày: 09-9-2022 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai.
2. Ông Nguyễn Thành Thông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 09 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 197/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4971/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Ngô Hoàng L, sinh năm 1970.
Địa chỉ: 57 Đường A, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H), sinh năm 1967.
Quốc tịch: Việt Nam
Địa chỉ: 6723 X Y WA 98512 USA.
Các đương sự đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21/3/2022 và những lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Ngô Hoàng L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H) kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận C, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 240 ngày 18/10/2016. Sau khi kết hôn, thời gian đầu ông và bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H) sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm, lối sống hàng ngày. Hiện nay, bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H) đang cư trú tại Mỹ, đầu năm 2021 bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H) không còn liện lạc để gàn gắn tình cảm vợ chồng và giải quyết mâu thuẫn. Do không có điều kiện gặp nhau để hàn gắn tình cảm nên tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không giải quyết được, khả năng đoàn tụ lại không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị được ly hôn với bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H) để ổn định cuộc sống. Về con chung: Không có. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có. Vì bận việc, ông yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án. Tại Bản tự khai đã được chứng nhận tại Tổng Lãnh sự quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại San Francisco, Hoa Kỳ ngày 18/6/2022, bị đơn là bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H) xác nhận lời trình bày của ông Ngô Hoàng L về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung là đúng. Nay ông L xin ly hôn, bà đồng ý được ly hôn với ông L. Do điều kiện đi lại gặp nhiều khó khăn, bà yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Ngô Hoàng L và bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H) kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân quận C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Căn cứ theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa ông L và bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H) là hôn nhân hợp pháp. Nguyên đơn cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh; Bị đơn hiện cư trú tại nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét bản tự khai của bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H) đã được chứng nhận của Tổng Lãnh sự quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại tại San Francisco, Hoa Kỳ ngày 18/6/2022 nên được xem là chứng cứ hợp pháp của vụ án theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được quye định tại Khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của ông Ngô Hoàng L được ly hôn bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H) Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của ông L và bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H), thì thực tế sau khi kết hôn hai bên phát sinh mâu thuẫn không thể giải quyết được. Từ khi kết hôn cho đến nay, ông L và bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H) không có quá trình chung sống lâu dài, do xa cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Hiện nay ông L và bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H) đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, ông L yêu cầu được ly hôn với bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H) là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Ông Ngô Hoàng L và bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H) khai không có.
Án phí sơ thẩm:
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm ông Ngô Hoàng L phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Ông Ngô Hoàng L và bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H) có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Ngô Hoàng L.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Ngô Hoàng L được ly hôn bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H).
Giấy chứng nhận kết hôn số 240 do Ủy ban nhân dân quận C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/10/2016 cho ông Ngô Hoàng L và bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H) không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, ông Ngô Hoàng L chịu và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà ông L đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2021/0002127 ngày 11/5/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông L đã nộp đủ tiền án phí.
3. Ông Ngô Hoàng L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Bà Ho, H T (Hồ Thị Ngọc H) được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Cục THADS TP.HCM; - UBND quận C, TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu: HS, VT.(Linh/16b) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Bích Duyên |