- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Lệ T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Lệ T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự đây
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 153/2026/HNGĐ-ST Ngày 14-5-2026 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hòa.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Quang Truyền;
2. Bà Huỳnh Thị Thanh Phương.
- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Thị Thuỳ Trang, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Trần Tuyết Trang, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 164/2026/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2026 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 116/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Lệ T, sinh năm 1992; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 28/6/2021; địa chỉ thường trú: số 1017, Quốc lộ 22B, khu phố T1, phường T2, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ hiện nay: số nhà 57, đường số T3, đường Q, tổ 8, khu phố K, phường H, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: ông Thái Hồng B, sinh năm 1992; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 12/4/2022; địa chỉ: 1017, Quốc lộ 22, khu phố T1, phường T2, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 01 năm 2026 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Trần Thị Lệ T trình bày:
Về hôn nhân: bà và ông Thái Hồng B bắt đầu sống chung với nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B1, thị xã H (nay là phường T2), tỉnh Tây Ninh ngày 21/3/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu về tính tình vợ chồng không có tiếng nói chung thường hay cãi nhau lý do bất đồng về tiền bạc, vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2025, từ khi ly thân vợ chồng mạnh ai nấy sống, nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên bà kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông Thái Hồng B.
Về con chung: bà và ông B có 01 người con chung tên Thái Ngọc Bảo C, sinh ngày 20/5/2014 (giới tính: Nữ), hiện tại đang sống cùng với bà và học lớp 6 Trường THCS X, phường H, tỉnh Tây Ninh. Bà yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án – bị đơn ông Thái Hồng B đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập nhiều lần theo quy định nhưng ông B không cung cấp văn bản trình bày ý kiến cũng như không đến Tòa án để làm việc.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Lệ T và ông Thái Hồng B; về con chung: giao con chung tên Thái Ngọc Bảo C cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận bà T không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết; về án phí tính theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
. Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: nguyên đơn – bà Trần Thị Lệ T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn – ông Thái Hồng B và giải quyết vấn đề về con chung, do bị đơn cư trú tại phường T2, tỉnh Tây Ninh do đó căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” nên Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh thụ lý và giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về xét xử vắng mặt các đương sự: bị đơn – ông Thái Hồng B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do, nguyên đơn – bà Trần Thị Lệ T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt do đó căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị Lệ T và ông Thái Hồng B chung sống và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B1, thị xã H (nay là phường T2), tỉnh Tây Ninh ngày 21/3/2013 nên hôn nhân giữa bà T và ông B là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Nguyên đơn - bà T trình bày, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống chủ yếu về vấn đề tài chính trong gia đình, vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2025 đến nay, nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên bà T khởi kiện ly hôn với ông B. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông B đến Tòa án nhưng ông B không đến Toà án, không tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa cũng như không có văn bản trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của bà T, cho thấy ông B không có thiện chí được đoàn tụ.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không có khả năng đoàn tụ; do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trần Thị Lệ T đối với ông Thái Hồng B theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: bà T và ông B có 01 con chung tên Thái Ngọc Bảo C, sinh ngày 20/5/2014, hiện đang sống cùng với bà T, bà T yêu cầu được nuôi con, ông B không có ý kiến phản hồi, tại Biên bản lấy lời khai ngày 10/4/2026 cháu C trình bày nguyện vọng mong muốn được ở cùng với mẹ nên Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của cháu C và có xem xét theo nguyện vọng của cháu thì cần giao cháu C cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận bà T không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
. Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
. Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Tây Ninh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Trần Thị Lệ T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Lệ T.
Bà Trần Thị Lệ T và ông Thái Hồng B được ly hôn.
2. Về con chung: giao con chung tên Thái Ngọc Bảo C, sinh ngày 20/5/2014, cho bà Trần Thị Lệ T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận bà T không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
Ông Thái Hồng B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Trần Thị Lệ T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí khởi kiện đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0002551 ngày 03/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh; ghi nhận đã nộp xong.
5. Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
6. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND Khu vực 10 – Tây Ninh; - Phòng THADS Khu vực 10 – Tây Ninh; - UBND cấp xã nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Mỹ Hòa |