vanban.org

Bản án 153/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 16/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

T bố Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Giao bị cáo H cho UBND phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? T bố Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ QUẾ VÕ
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2023/HSST
Ngày: 16/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Minh Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Tuyến

Bà Nguyễn Thị Huệ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Thứ – Thư ký TAND thị xã Quế Võ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Phụng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023, tại TAND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 160/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1969.

HKTT: khu phố Do Nha, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tác và bà Nguyễn Thị Ngạch; có vợ là Nguyễn Thị S và 03 con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị tạm giam từ ngày 16/3/2023 đến ngày 12/5/2023. Có mặt.

- Bị hại: Anh Trần Văn T, sinh năm 1985; Địa chỉ: thôn Từ Thuận, xã Vân Từ, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội. (Đã chết)

- Người người đại diện theo pháp luật của anh T:

1. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1953; (Là mẹ của anh T). Vắng mặt.

2. Chị Trần Thị H1, sinh năm 1980; (Là vợ của anh T). Vắng mặt.

Đều địa chỉ: thôn Từ Thuận, xã Vân Từ, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1971; Địa chỉ: khu phố Do Nha, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 19/12/2021, ông Vũ Trọng Chương là người thuê trọ tại phòng 301 khu nhà trọ của Nguyễn Văn H tại khu phố Do Nha, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh có mời anh Trần Văn T Sg phòng trọ ăn cơm. Khoảng gần 19 giờ cùng ngày, anh T đi bộ đến phòng trọ của ông Chương để ăn cơm, uống rượu cùng ông Chương, chị Vũ Thị Hoài và anh Vũ Trọng Đức (đều là con ông Chương). Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì H đến để kiểm tra khu trọ về việc thực hiện giãn cách xã hội do dịch bệnh Covid-19. Khi đến nơi, H đứng trước cửa phòng trọ nhìn thấy anh T trong phòng nên hỏi “mày ở đâu tới, mày có giấy tờ gì không”, đồng thời bảo anh Chương “sao có người đến chơi không báo, đang dịch bệnh thế này còn tụ tập”. Ông Chương nói với H là anh T thuê trọ ở gần đây, anh em lâu ngày không gặp nên đến chơi. Thấy vậy, anh T nói: “Đ.m ông đã lấy tiền phòng rồi còn có quyền gì”. H yêu cầu ông Chương, anh T xuất trình sổ đăng ký tạm trú tạm vắng và giấy tiêm covid. Anh T có bỏ căn cước công dân và giấy tiêm covid cho H xem. Sau đó, giữa H và anh T có xảy ra cãi nhau. H đi vào phòng trọ túm vai áo của anh T mục đích kéo anh T ra khỏi phòng để anh T đi về nhưng không được.

Theo lời khai của chị Vũ Thị Hoài thì sau đó anh T đi ra ngoài hành lang gọi điện thoại cho vợ mang sổ tạm trú đến thì hai bên tiếp tục nói nhau. H dùng tay trái túm tóc, tay phải đấm một cái vào miệng làm anh T chảy máu miệng. Sau khi bị đấm, anh T chạy vào trong phòng trọ của gia đình ông Chương. Lúc này, H đi vào phòng và tiếp tục lời qua tiếng lại với anh T. Khi anh T đang ngồi dưới nền nhà trong phòng trọ thì H đứng ở phía đối diện, cách khoảng 60cm dùng chân đá một cái vào vùng cằm làm anh T ngửa về sau. Lúc này, anh T có hỏi H: “sao chú đánh cháu”, thì H nói “mày chửi tao”. Ông Chương khai khi anh T ra ngoài cửa thì bị ai đánh ngã vào trong phòng trọ, ông Chương thấy anh T bị chảy máu ở miệng, mũi. Ông Chương, chị Hoài và anh Đức đều khai, sau khi H và anh T xảy ra mâu thuẫn thì anh Nguyễn Văn Đoan (là con trai của H) và ông Nguyễn Văn Hiện (là em trai của H) đến. Anh Đoan thấy H định đánh anh T thì can ngăn và nói “bố có để im cho con giải quyết không”, còn ông Hiện đứng trước cửa phòng trọ bảo anh T “thằng này không đi về đi”.

H không thừa nhận hành vi đánh anh T tại hành lang phòng trọ tầng 3 nhà mình. H khai sau khi anh T ra hành lang gọi điện xong thì lại quay vào phòng trọ của gia đình ông Chương. Lúc này, H đi vào phòng trọ dùng tay túm tay anh T kéo ra ngoài để yêu cầu anh T đi về không được tụ tập nhưng không được, hai bên giằng co nhau. Sau đó, H tiếp tục dùng tay túm vai áo anh T để kéo anh T ra ngoài. Anh T ra khỏi phòng trọ thì tự đi xuống cầu thang và gọi điện thoại cho vợ đến đón, H cũng đi sau và anh Hiện đi cuối cùng. Khi ra đến cổng khu trọ, anh T đi trước cách H khoảng 3-4 m, còn ông Hiện đi về. Lúc này anh T và H vẫn tiếp tục cãi nhau khoảng 5 phút, anh T có lời nói thách thức H. Khi anh T đi đến gần ngã 3 ba đối diện cổng khu trọ nhà H, cách chỗ H khoảng 10m, vừa đi vừa nói “Đ.mẹ mày chờ đấy”, thì H nói lại “Đ.mẹ mày về đi không tao vả cho mấy cái”, đồng thời H chạy từ vỉa hè trước cổng khu trọ đến chỗ anh T đang đi. Khi H đi đến cách anh T 50cm, đứng ở phía bên tay trái của anh T, anh T quay mặt về phía H thì bị H dùng tay trái đấm một cái theo hướng từ ngoài vào trong trúng vào mặt anh T làm anh T bị ngã đập đầu phía bên phải xuống đất. Khi anh T bị ngã xuống đất thì H nghe thấy tiếng “bịch”, thấy vậy ông Hiện chạy ra kéo H về.

Lúc này, chị Trần Thị H1 là vợ của anh T cũng đi xe máy đến đón anh T thì thấy anh T đang nằm bất tỉnh ở đường. Bác sỹ Nguyễn Văn Huyên (nhà ở đối diện chỗ anh T nằm) có ra sơ cứu đo huyết áp, nhịp tim thì thấy mạch huyết áp bình thường, đồng thời bảo chị H1 đưa anh T đi bệnh viện để kiểm tra nhưng chị H1 bảo cứ đưa về phòng trọ của hai vợ chồng. Sau đó, anh Đoan, chị H1, bác sỹ Huyên cùng một người thanh niên (không rõ lai lịch) lấy xe máy đưa anh T về phòng trọ của hai vợ chồng anh T ở cách đó khoảng 150m. Khi về đến phòng trọ, bác sỹ Huyên khám lại (chỉ đo huyết áp) và bảo anh T nằm nghỉ, còn anh Đoan cho chị H1 số điện thoại dặn có gì thì gọi cho anh Đoan. Đến đêm khi anh T nằm nghiêng người thì chị H1 phát hiện đầu phía bên phải của anh T có tóc ướt. Chị H1 kiểm tra thì thấy có viên sỏi găm vào đầu, mắt trái bị xưng tím. Chị H1 gọi điện thoại cho anh Đoan thì anh Đoan nói đang ở Bắc Giang. Đến sáng 20/12/2021, chị H1 đưa anh T đến nhà bác sỹ Huyên để khám. Sau khi khám, bác sỹ Huyên phát hiện trong đầu có 1 viên sỏi bằng hạt ngô gây rách da nên dùng dụng cụ y tế cậy nhẹ viên sỏi rơi ra. Bác sỹ Huyên có bảo anh T đến bệnh viện chụp chiếu để kiểm tra, nhưng sau đó chị H1 không đưa anh T đến bệnh viện khám mà về đưa phòng trọ để anh T nghỉ ngơi. Quá trình ở nhà trọ từ ngày 20/12/2021 đến ngày 23/12/2021, anh T liên tục kêu đau đầu, đi lại choáng váng và không ăn uống được. Đến ngày 23/12/2021, anh T có biểu hiện đau đầu, buồn nôn nhiều nên đã bảo chị H1 đưa đi bệnh viện đa kH1 huyện Quế Võ để kiểm tra. Qua chụp chiếu Bệnh viện đa kH1 huyện Quế Võ chẩn đoán tụ máu ngoài màng cứng và dưới màng cứng vùng thùy dương phải, vỡ xương thái dương phải. Sau đó, anh T được chuyển đến Bệnh viện đa kH1 tỉnh Bắc Ninh. Theo kết quả chụp cắt lớp vi tính (CLVT) sọ não ngày 24/12/2021 của Bệnh viện đa kH1 tỉnh Bắc Ninh thể hiện: hình ảnh tụ máu khí ngoài màng cứng vùng hố thái dương phải, tụ máu dưới màng cứng vùng thái dương phải. Mở kết hợp xương thái dương phải, vỡ xương bướm phải, thành xoang sàng phải nên anh T được chỉ định mổ cấp cứu phẫu thuật lấy máu tụ ngoài màng cứng trên lều tiểu não. Chiều ngày 23/12/2021, anh T được mổ cấp cứu trấn thương sọ não, tụ máu ngoài màng cứng. Sau mổ, anh T được điều trị tại kH1 ngoại thần kinh lồng ngực. Đến sáng ngày 29/12/2021, anh T được điều dưỡng Nguyễn Thanh Tâm tiêm thuốc cefovidi 1g x 6 lọ/1 ngày theo chỉ định của bác sỹ Trần Hoài Nam – là bác sỹ điều trị kH1 phẫu thuật thần kinh, lồng ngực. Sau khi tiêm 2 lọ cefovidi 1g thì anh T có biểu hiện ho, trợn mắt, hai tay duỗi thẳng. Thấy vậy, điều dưỡng Tâm đã xử lý tiêm thuốc chống sốc Adrenalin. Sau khi tiêm thuốc chống sốc, anh T vẫn có biểu hiện như trên nên điều dưỡng Tâm đã gọi bác sỹ cấp cứu. Sau đó, anh T được đưa Sg phòng thủ thuật để cấp cứu nhưng đã tử vong.

* Khám nghiệm hiện trường:

- Tại phòng trọ P3 của gia đình Nguyễn Văn H: Vị trí tiếp giáp của nhà trọ Nguyễn Văn H: Phòng trọ xảy ra vụ việc nằm ở bên trái cầu thang theo lối lên tầng 3, ghi p3. Phòng có một cửa ra vào góc hướng Tây Nam. Tường hướng Nam của phòng có một cửa sổ kích thước (0,87 x 1,46)m. Trên tường hướng Đông có một cửa sổ dạng cửa hai cánh kích thước (1,45 x 1,45)m đang đóng. Góc phòng hướng Đông Bắc là nhà vệ sinh kích thước (1,3 x 2,5)m, có một cửa ra vào kích thước (0,6 x 1,9)m. Sát tường hướng Đông ngay phía ngoài nhà vệ sinh có kê một giường khung kim loại kích thước (1,5 x 2 x 0,4)m.

- Mở rộng hiện trường theo hướng Tây Nam 21m từ tầng 1 dãy trọ nhà H: Tại khu vực ngã tư giao nhau giữa đường nhựa rộng 13,5 m giao với đường bê tông 5,2 m, tại vị trí cách cột điện ký hiệu ĐL Quế Võ (4.6).5, sát cửa hàng giày dép Phú Thành 3,9 m được xác định là vị trí xảy ra xô xát giữa H và anh Trần Văn T. Tại phần tiếp giáp giữa đường bê tông khu giãn dân và đường nhựa này được xác định là vị trí anh Trần Văn T nằm, xung quanh vị trí này 2m về phía Tây Nam có đất, đá, sỏi kích thước trung bình từ 1,3 đến 1,5 cm, có cạnh. Hai bên đường bê tông phần vỉa hè còn đất bê tông đá nhỏ màu xanh nâu. Tại vỉa hè phía Nam tiếp giáp phòng khám chuyên kH1 nội, vị trí cách cửa nhà trọ ông H 9 m, cách cột điện góc phía Tây Nam phòng khám 0,7m, trên nền vỉa hè còn chưa ốp gạch hoàn thiện, kích thước 3,4 x 1,5 m, phần dưới còn đá xanh xen lẫn cát bê tông kích thước trung bình 1,5 đến 2,5 cm có cạnh.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 151/KH ngày 14/7/2022 của Bệnh viện đa kH1 tỉnh Bắc Ninh kết luận:

- 01 vết thương vùng đỉnh thái dương phải dài 0,5cm, không chảy máu

- Bầm tím, sưng nề quanh mắt trái

- Chụp CLVT sọ não ngày 23/12/2021 (TTYT Quế Võ): hình ảnh tụ màu ngoài màng cứng và dưới màng cứng vùng thái dương bên phải, vỡ xương thái dương bên phải/lệch đường giữa độ 1

- Chụp CLVT sọ não ngày 24/12/2021: hình ảnh tụ máu khí ngoài màng cứng vùng hố thái dương phải, tụ máu dưới màng cứng vùng thái dương phải. Mở kết hợp xương thái dương phải, vỡ xương bướm phải, thành xoang sàng phải. Dịch đa xoang. (BL: 147)

- Tại Bản kết luận giám định số 70/C09- TT1,P4 ngày 10/2/2022 của Viện kH1 học hình sự Bộ công an kết luận:

+ Trong mẫu máu ghi thu của tử thi Trần Văn T gửi giám định không tìm thấy Ethanol (cồn)

+ Trong mẫu phủ tạng, chất chứa trong dạ dầy, máu ghi thu giữ của tử thi Trần Văn T gửi giám định không tìm thấy ma túy và các chất độc thường gặp: Xyanua (CN-, Cyanide), Hydrophosphid (H3P), Methanol, thuốc diệt chuột, thuốc trừ sâu – diệt cỏ, alkaloid độc của lá ngón, mã tiền, cà độc dược, quinine, ô đầu – phụ tử.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 19/KLPY- PC09 ngày 18/2/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

Trên cơ thể nạn nhân có dấu vết tác động của ngoại lực ở vùng thái dương đỉnh phải. Tụ máu ngoài màng cứng, dưới màng cứng diện tương đối ít, các ổ đụng dập xuất huyết đang thoái triển; tổ chức não phù nhẹ, các não thất không xẹp, không thấy hiện tượng chảy máu tại các ổ đụng dập, không phải nguyên nhân dẫn đển tử vong.

Ngoài ra trên cơ thể nạn nhân không tìm thấy tác động ngoại lực có thể dẫn đến tử vong.

Trong lòng mạch và buồng tim có phần hồng cầu bị đông vón, tách hoàn toàn phần huyết tương. Phổi phải phù, phổi trái xẹp, dính vào kH1ng lồng ngực phía sau, mặt cắt dai, xơ cứng. Mô bệnh học: phổi xung huyết, xuất huyết, đông máu nội mạch rải rác.

Sau khi tiêm kháng sinh Cefovidi ngày thứ 7, xuất hiện ngừng tuần hoàn, tím tái, ngừng thở có biểu hiện của sốc phản vệ khá điển hình. Ngoài ra khi khám nghiệm phát hiện hiện tượng đông vón hồng cầu trong lòng mạch, không có tổn thương sọ não điển hình gây tử vong, không có chất độc thường gặp trong cơ thể nạn nhân; nghĩ nhiều đến sốc phản vệ sau tiêm kháng sinh dẫn đến suy tuần hoàn, suy hô hấp.

Kết luận: Nguyên nhân chết của Trần Văn T suy tuần hoàn, suy hô hấp cấp.

Căn cứ Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ về quy trình khám chữa bệnh cho anh Trần Văn T, ngày 22/4/2022 Sở y tế tỉnh Bắc Ninh có công văn phúc đáp nội dung:

1. Quy trình khám, chữa bệnh đối với bệnh nhân Trần Văn T:

Tại Trung tâm y tế huyện Quế Võ: Việc tiếp đón, khám, chuẩn đoán và xử trí (chuyển tuyến) với bệnh nhân Trần Văn T là đúng quy trình của đơn vị và phù hợp với quy định hiện hành.

Tại Bệnh viện đa kH1 tỉnh Bắc Ninh: Bệnh nhân Trần Văn T được tiếp đón kịp thời, chuẩn đoán, xử trí, điều trị theo đúng quy trình chuyên môn kỹ thuật và phác đồ điều trị tại bệnh viện; Việc xử trí cấp cứu (nghi Shock phản vệ) đối với Trần Văn T được thực hiện kịp thời theo Thông tư 51/2017/TT – BYT của Bộ y tế hướng dẫn phòng, chuẩn đoán và xử trí phản vệ

2. Tính năng, tác dụng và quy trình sử dụng các thuốc cho bệnh nhân Trần Văn T:

Việc sử dụng các loại thuốc trong quá trình điều trị, hồi sức cấp cứu đối với bệnh nhân là đúng theo hướng dẫn của Bộ y tế.

- Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 2589/KL- KTHS ngày 26/5/2022 của Viện kH1 học hình sự Bộ công an kết luận:

Vết thương vùng thái dương phải: 01% (áp dụng Khoản 2, Điều 2, nguyên tắc 1,4 và Mục I.1, chương 8).

Vết mổ vùng thái dương phải: 01% (áp dụng Khoản 2, Điều 2, nguyên tắc 1,4 và Mục I.1, chương 8).

Vết dẫn lưu vùng thái dương phải: 01% (áp dụng Khoản 2, Điều 2, nguyên tắc 1,4 và Mục I.1, chương 8).

- Tụ máu ngoài màng cứng vùng hố thái dương phải: 05% (áp dụng Khoản 2, Điều 2 và ghi chú Mục III, Chương 1)

- Tụ máu dưới màng cứng vùng dương phải: 08% (áp dụng Khoản 2, Điều 2 và ghi chú Mục III, Chương 1)

- Vỡ xương thái dương phải lan xuống xương bướm phải, vỡ thành xoang sàng phải đã phẫu thuật mở sọ lấy máu tụ, sau phẫu thuật đã đặt lại xương sọ, cố định bằng một nẹp đóng sọ Titan: 16% (áp dụng Khoản 2, Điều 2 và Mục I.5.1, Chương 1).

Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư 22: 22/2019/TT – BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y tế, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Văn T tại thời điểm giám định là 29%. (BL: 101-104)

Tại kết luận giám định số 921/KL-KTHS ngày 10 tháng 03 năm 2023 của Viện kH1 học hình sự Bộ Công an kết luận:

+ Các thương tích đã được xác định tại bản Kết luận giám định pháp y thương tích số 2589/KL-KTHS ngày 26/5/2022 của Viện kH1 học hình sự Bộ Công an với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể 29% (thời điểm giám định ngày 26 tháng 04 năm 2022).

+ Thương tích bổ sung: Tụ máu dưới màng cứng vùng Thái dương trái, dập não thùy thái dương trái, dập não tụ máu vùng nhân bèo trái.

+ Áp dụng khoản 2, điều 2, Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế.

Đối chiếu với Bảng 1 - tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, Mục III.1 mục III.6 và ghi chú mục III, Chương 1 xác định bổ sung tỉ lệ % tổn thương cơ thể cho các thương tích như sau:

Tụ máu dưới màng cứng vùng thái dương trái 8%,

Tổn thương dập não thùy thái dương trái 5%

Tổn thương dập não tụ máu vùng nhân bèo bên trái 5%

Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quyết định tại Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tổng tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Văn T tại thời điểm giám định ngày 26/4/2022 và giám định bổ sung là 41% (bốn mươi mốt phần trăm).

+ Cơ chế hình thành tương thích:

Các tổn thương vùng đầu của anh Trần Văn T do tác động tương hỗ rất mạnh với vật tày diện không nhẵn gây ra. Trong đó các tổn thương: sây sát rách da rải rác vùng thái dương phải, vỡ xương thái dương phải lan xuống xương bướm phải, thành xoang sàng phải, tụ máu ngoài và dưới màng cứng vùng thái dương phải là tổn thương trực tiếp; các tổn thương: tụ máu dưới màng cứng vùng thái dương trái, dập não thùy thái dương trái, dập não tụ máu vùng nhân bèo bên trái là tổn thương gián tiếp.

Trường hợp anh Trần Văn T bị đánh ngã đập đầu bên phải xuống nền đường không nhẵn gây được các tổn thương trực tiếp: sây sát, rách da rải rác vùng thái dương đỉnh phải, vỡ xương thái dương phải lan xuống xương bướm phải, thành xoang sàng phải, tụ máu ngoài - dưới màng cứng vùng thái dương phải và các tổn thương thương gián tiếp: tụ máu dưới màng cứng vùng thái dương trái, dập não thùy thái dương trái, dập não tụ máu vùng nhân bèo bên trái theo cơ chế đối lực.

Với nội dung trên, bản Cáo trạng số: 122/CT-VKSQV ngày 14/7/2023 của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo H khai trong thời điểm toàn xã hội đang thực hiện việc cách ly để phòng chống dịch Covid 19, do bức xúc về việc anh Trần Văn T là người nơi khác đến khu trọ của gia đình bị cáo tụ tập uống rượu, nên giữa H và anh T có xảy ra to tiếng tại phòng trọ số 301 của ông Chương, nhưng lúc này bị cáo không đánh anh T mà chỉ dùng tay kéo anh T ra khỏi phòng trọ. Sau đó, bị cáo và anh T đi xuống tầng 1 ra mặt đường trước cổng khu nhà trọ, lúc này H và anh T vẫn tiếp tục nói nhau, do anh T có lời lẽ thách thức nên bị cáo đã dùng tay trái tát 01 cái vào mặt anh T làm anh T ngã xuống đường. H thừa nhận toàn bộ vết thương của anh T là do một mình bị cáo gây ra, và nhất trí với các kết luận giám định thương tích đối với anh T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị HĐXX T bố Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn H từ 24-30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48-60 tháng kể từ ngày T án sơ thẩm.

- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết.

- Về vật chứng: Lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB chứa các file ghi lại hình ảnh vụ việc.

- Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì với đại diện VKSND thị xã Quế Võ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng và đầy đủ các hành vi, quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 19/12/2021, do bức xúc vì việc đang trong thời gian dãn cách xã hội để phòng chống dịch Covid 19, nhưng anh Trần Văn T là người ở nơi khác vẫn đến khu nhà trọ của gia đình Nguyễn Văn H ở khu phố Do Nha, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tụ tập uống rượu, nên giữa H và anh T có xảy ra to tiếng. Khi được mọi người can ngăn thì H và anh T đi ra ngoài đường trước cổng khu nhà trọ, tại đây H và anh T vẫn tiếp tục cãi nhau, H đã dùng tay đánh 01 cái vào mặt anh T làm anh T ngã đập đầu xuống đường, gây tổn thương 41% sức khỏe của anh T. Sau đó đến ngày 29/12/2021 khi anh T được điều trị tại Bệnh viện đa kH1 tỉnh Bắc Ninh thì bị tử vong do sốc phản vệ. Do đó, hành vi của Nguyễn Văn H đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ nên cần phải bị xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự. Tuy nhiên, H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 290.000.000 đồng thể hiện bị cáo đã ăn năn hối cải với hành vi của mình. Bị cáo được gia đình bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt, và có bố đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến, nên H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo H có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nguyên nhân phạm tội của H là do bị cáo bức xúc về việc anh T đến khu trọ của nhà bị cáo tụ tập uống rượu trong thời gian phòng chống dịch bệnh Covid 19, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, chỉ cần cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục H trở thành công dân tốt.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra gia đình H đã bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 290.000.000 đồng, đến nay gia đình anh T không yêu cầu H phải bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.

Đối với số tiền mà bà Nguyễn Thị S thay bị cáo H bồi thường cho gia đình bị hại, đến nay bà S không yêu cầu H phải trả lại số tiền này nên không xem xét, giải quyết.

Về vật chứng:

+ Đối với 01 hồ sơ bệnh án ngoại kH1 họ tên bệnh nhân Trần Văn T; 02 phim chụp cắt lớp vi tính sọ não, 03 phim chụp cắt lớp vi tính ổ bụng; 02 phim chụp cắt lớp vi tính lồng ngực; 01 phim chụp XQuang lồng ngực và các vỏ thuốc sử dụng cho Trần Văn T: 02 vỏ lọ Cefovidi 01 gram; 01 lọ truyền Panacetamol 10mg/ml; 01 vỏ lọ thuốc Difosfoan 500mg/4ml; 01 vỏ thuốc Adrenalin 1mg/1ml; 02 vỏ nhựa nước cất pha tiêm 10ml; 01 vỉ thuốc Adrenalin 1mg/1ml (gồm 5 ống đã sử dụng 1 ống, còn 4 ống); 18 vỏ ống Adrenalin 1mg/1ml SLSX 016421; 06 vỏ ống Adrenalin 1mg/1ml SLSX 03021; 03 vỏ ống Adrenalin 1mg/1ml SLSX 010421; 03 vỏ ống Adrenalin 1mg/1ml SLSX 010121; 04 vỏ ống Adrenalin 1mg/1ml SLSX 0108120; 01 vỏ lọ thuốc Creao inj 40mg; 03 vỏ trai nhựa Natri clorid 0,9% 500ml và 01 vỏ trai thủy tinh Natri bicarbonate 1,4%. Ngày 05/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ đã trả lại ông Trần Văn Tuyến – là trưởng phòng kế hoạch tổng hợp Bệnh viện đa kH1 tỉnh Bắc Ninh là phù hợp.

+ Đối với 01 USB bên trong có chứa các file ghi lại hình ảnh vụ việc cần lưu theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với việc anh Trần Văn T được điều trị tại Bệnh viện đa kH1 tỉnh Bắc Ninh sau đó bị chết, theo kết luận giám đinh pháp y của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh thì nguyên nhân chết của Trần Văn T suy tuần hoàn, suy hô hấp cấp do sau khi tiêm kháng sinh. Quá trình giải quyết vụ án, Sở y tế tỉnh Bắc Ninh khẳng định về quy trình khám chữa bệnh của Bệnh viện đa kH1 tỉnh Bắc Ninh là đúng quy định. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ không xem xét trách nhiệm của cơ sở khám chữa bệnh là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

T bố Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn H 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày T án sơ thẩm.

Giao bị cáo H cho UBND phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

* Về vật chứng: Lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB bên trong có chứa các file ghi lại hình ảnh vụ việc.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày T án.

Người đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ