vanban.org

Bản án 153/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị L, cụ thể:

Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị L được ly hôn với ông Trần Minh T. Về con chung: Không có nên không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Ấp P, xã P1, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. (Xin vắng mặt) - Bị đơn: Ông Trần Minh T…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị L, cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 153/2023/HNGĐ–ST
Ngày: 11-12-2023
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Kim Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Tỵ

2. Bà Đinh Thị Thanh Tuyền

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thư Linh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Trong ngày 11 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 337/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 440/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 475/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Ấp P, xã P1, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. (Xin vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Minh T, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Ấp T1, xã T2, huyện M1, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Huỳnh Thị L trình bày:

Bà và ông Trần Minh T do mai mối rồi tìm hiểu nhau mới tiến đến hôn nhân, được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới và ông bà tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T2, huyện M1, tỉnh Bến Tre vào ngày 21/11/2019 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mất hạnh phúc là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống vợ chồng, gia đình không cfn vui vẻ hạnh phúc. Nay bà xác định không còn tình cảm vợ chồng, không thể tiếp tục mối quan hệ hôn nhân với ông T được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn ông Trần Minh T vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà nên không có lời trình bày, cũng không cung cấp văn bản nêu ý kiến và tài liệu, chứng cứ cho Toà án xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị L xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà L có quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Trần Minh T có nơi cư trú tại ấp T1, xã T2, huyện M1, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào quan hệ pháp luật tranh chấp và nơi cư trú của bị đơn xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Bà Huỳnh Thị L có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà L. Ông Trần Minh T đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông T.

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Huỳnh Thị L, Hội đồng xét xử nhận định: Bà L và ông T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T2, huyện M1, tỉnh Bến Tre vào ngày 21/11/2019 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Do đó, hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Trong thời gian chung sống, giữa bà L và ông T phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân theo bà L xác định là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, giữa vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Ông T đã được Toà án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo tham gia phiên hoà giải nhưng ông T không đến chứng tỏ cũng không có thiện chí đoàn tụ. Đồng thời, ông T cũng không cung cấp văn bản nêu ý kiến hay phản đối lời trình bày của bà L. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà L vẫn kiên quyết giữ nguyên quan điểm ly hôn. Từ các cơ sở trên cho thấy, tình trạng hôn nhân của bà L và ông T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận cho bà L được ly hôn với ông T.

Xét về con chung: Bà L xác định bà và ông T không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không giải quyết.

Xét về tài sản chung: Bà L xác định không có tài sản chung, ông T không đưa ra yêu cầu nên không giải quyết.

Xét về nợ chung: Bà L xác định không có nợ chung, ông T không đưa ra yêu cầu nên không giải quyết.

Xét về án phí: Bà L có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị L, cụ thể:

Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị L được ly hôn với ông Trần Minh T.

Về con chung: Không có nên không giải quyết.

Về tài sản chung: Bà L xác định không có tài sản chung, ông T không đưa ra yêu cầu chia tài sản nên không giải quyết.

Về nợ chung: Bà L xác định không có nợ chung, ông T không đưa ra yêu cầu nên không giải quyết.

Về án phí: Bà L có nghĩa vụ chịu là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001157 ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ