- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp dân sự về hợp đồng góp hụi"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thanh Tbà Nguyễn Ngọc M52 ông Phan N1 T3.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự dân sự; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự dân sự; Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 153/2023/DS-PT Ngày: 07-4-2023 V/v tranh chấp dân sự về hợp đồng góp hụi. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vạng.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Tấn Tặng;
Ông Sỹ Danh Đạt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Thị Tuyết Trinh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 15/3, 29/3 và 07/4/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 446/2022/TLPT-DS ngày 29 tháng 12 năm 2022, về việc tranh chấp dân sự về hợp đồng góp hụi.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 139/2022/DS-ST ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 86/2023/QĐ-PT ngày 17 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thanh T năm 1973; Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp
Đại diện theo ủy quyền: Chị Phan Thị Thảo Q năm 1996, địa chỉ: Tổ D, xã A, TP C, Đồng Tháp (văn bản ủy quyền ngày 14/11/2022). (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T1 sư Mai T– Công ty L1– Thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp, địa chỉ: Số B, QL C, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp(Có mặt)
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Ngọc M năm 1976; Địa chỉ: Ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà M: Luật sư Cao Minh T – Văn phòng L2– Thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp, địa chỉ: Số B, đường N, Khóm E, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp(Có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Phan N T3sinh năm 1970; Địa chỉ: Ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T2 sư Cao Minh T– Văn phòng Luật sư Chí CThuộc đoàn Luật sư tỉnh Đ, địa chỉ: Số B, đường N, Khóm E, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp
4. Người kháng cáo:
Bà Trần Thanh T3 nguyên đơn.
Bà Nguyễn Ngọc M2 bị đơn.
Ông Phan N T3là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, biên bản hòa giải và ý kiến trình bày tại phiên tòa của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Thùy L bày: Chị T3 chủ thảo hụi, vợ chồng chị M3 T3tham gia chơi hụi của chị T4 nhiều dây hụi và nhiều phần. Chị M3 T3hốt 40 dây hụi nhưng đóng lại hụi chết cho chị T5 đầy đủ.
Hiện nay chị M3 T3còn nợ tiền hụi đã hốt của 40 dây hụi đã mãn hết gồm:
1. Dây hụi 200.000đồng/tuần, bắt đầu khui ngày 04/11/2020AL có 26 phần, chị M4 gia 03 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 07 kỳ hụi chưa đóng (200.000đ x 3 phần x 07 kỳ ) với số tiền 4.200.000đồng.
2. Dây hụi 200.000đồng/tuần, bắt đầu khui ngày 06/11/2020AL có 26 phần, chị M4 gia 03 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 07 kỳ hụi chưa đóng (200.000đ x 3 phần x 07 kỳ ) với số tiền 4.200.000đồng.
3. Dây hụi 200.000đồng/tuần, bắt đầu khui ngày 27/11/2020AL có 26 phần, chị M4 gia 03 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 10 kỳ hụi chưa đóng (200.000đ x 3 phần x 10 kỳ ) với số tiền 6.000.000đồng.
4. Dây hụi 200.000đồng/tuần, bắt đầu khui ngày 11/01/2021 AL có 26 phần, chị M4 gia 03 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 14 kỳ hụi chưa đóng (200.000đ x 3 phần x 14 kỳ ) với số tiền 8.400.000đồng.
5. Dây hụi 200.000đồng/tuần, bắt đầu khui ngày 19/12/2020AL có 26 phần, chị M4 gia 03 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 10 kỳ hụi chưa đóng (200.000đ x 3 phần x 10 kỳ ) với số tiền 6.000.000đồng.
6. Dây hụi 200.000đồng/tuần, bắt đầu khui ngày 20/12/2020AL có 26 phần, chị M4 gia 03 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 15 kỳ hụi chưa đóng (200.000đ x 3 phần x 15 kỳ ) với số tiền 9.000.000đồng.
7. Dây hụi 200.000đồng/tuần, bắt đầu khui ngày 11/02/2020AL có 26 phần, chị M4 gia 03 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 16 kỳ hụi chưa đóng (200.000đ x 3 phần x 16 kỳ ) với số tiền 9.600.000đồng.
8. Dây hụi 200.000đồng/tuần, bắt đầu khui ngày 19/02/2020AL có 26 phần, chị M4 gia 03 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 17 kỳ hụi chưa đóng (200.000đ x 3 phần x 17 kỳ ) với số tiền 10.200.000đồng.
9. Dây hụi 500.000đồng/tuần, bắt đầu khui ngày 08/11/2020AL có 26 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 05 kỳ hụi chưa đóng (500.000đ x 02 phần x 05 kỳ ) với số tiền 5.000.000đồng.
10. Dây hụi 500.000đồng/tuần, bắt đầu khui ngày 28/11/2020AL có 26 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 10 kỳ hụi chưa đóng (500.000đ x 02 phần x 10 kỳ ) với số tiền 10.000.000đồng.
11. Dây hụi 500.000đồng/tuần, bắt đầu khui ngày 15/12/2020AL có 26 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 10 kỳ hụi chưa đóng (500.000đ x 02 phần x 10 kỳ ) với số tiền 10.000.000đồng.
12. Dây hụi 500.000đồng/tuần, bắt đầu khui ngày 22/01/2021AL có 26 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 16 kỳ hụi chưa đóng (500.000đ x 02 phần x 16 kỳ ) với số tiền 16.000.000đồng.
13. Dây hụi 500.000đồng/tuần, bắt đầu khui ngày 02/02/2021AL có 26 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 15 kỳ hụi chưa đóng (500.000đ x 02 phần x 15 kỳ ) với số tiền 15.000.000đồng.
14. Dây hụi 1.000.000đồng/nữa tháng, bắt đầu khui ngày 15/7/2020AL có 24 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 09 kỳ hụi chưa đóng (1.000.000đ x 02 phần x 09 kỳ) với số tiền 18.000.000đồng.
15. Dây hụi 500.000đồng/nữa tháng, bắt đầu khui ngày 29/10/2020AL có 24 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 12 kỳ hụi chưa đóng (500.000đ x 02 phần x 12 kỳ) với số tiền 12.000.000đồng.
16. Dây hụi 500.000đồng/nữa tháng, bắt đầu khui ngày 13/10/2020AL có 24 phần, chị M4 gia 04 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 11 kỳ hụi chưa đóng (500.000đ x 04 phần x 11 kỳ) với số tiền 22.000.000đồng.
17. Dây hụi 1.000.000đồng/nữa tháng, bắt đầu khui ngày 14/11/2020AL có 24 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 14 kỳ hụi chưa đóng (1.000.000đ x 02 phần x 14 kỳ) với số tiền 28.000.000đồng.
18. Dây hụi 1.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 25/12/2019AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 03 kỳ hụi chưa đóng (1.000.000đ x 02 phần x 03 kỳ) với số tiền 6.000.000đồng.
19. Dây hụi 1.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 19/01/2020AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 06 kỳ hụi chưa đóng (1.000.000đ x 02 phần x 06 kỳ) với số tiền 12.000.000đồng.
20. Dây hụi 1.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 08/02/2020AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 04 kỳ hụi chưa đóng (1.000.000đ x 02 phần x 04 kỳ) với số tiền 8.000.000đồng.
21. Dây hụi 5.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 10/3/2020AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 08 kỳ hụi chưa đóng (1.000.000đ x 02 phần x 08 kỳ) với số tiền 80.000.000đồng.
22. Dây hụi 1.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 22/03/2020AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 06 kỳ hụi chưa đóng (1.000.000đ x 02 phần x 06 kỳ) với số tiền 12.000.000đồng.
23. Dây hụi 1.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 04/04/2020AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 07 kỳ hụi chưa đóng (1.000.000đ x 02 phần x 07 kỳ) với số tiền 14.000.000đồng.
24. Dây hụi 1.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 18/04/2020AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 10 kỳ hụi chưa đóng (1.000.000đ x 02 phần x 10 kỳ) với số tiền 20.000.000đồng.
25. Dây hụi 5.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 21/04/2020AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 10 kỳ hụi chưa đóng (5.000.000đ x 02 phần x 10 kỳ) với số tiền 100.000.000đồng.
26. Dây hụi 1.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 06/05/2020AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 10 kỳ hụi chưa đóng (1.000.000đ x 02 phần x 10 kỳ) với số tiền 20.000.000đồng.
27. Dây hụi 1.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 07/05/2020AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 10 kỳ hụi chưa đóng (1.000.000đ x 02 phần x 10 kỳ) với số tiền 20.000.000đồng.
28. Dây hụi 5.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 26/06/2020AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 12 kỳ hụi chưa đóng (5.000.000đ x 02 phần x 12 kỳ) với số tiền 120.000.000đồng.
29. Dây hụi 1.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 05/07/2020AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 10 kỳ hụi chưa đóng (1.000.000đ x 02 phần x 10 kỳ) với số tiền 20.000.000đồng.
30. Dây hụi 2.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 20/07/2020AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 11 kỳ hụi chưa đóng (2.000.000đ x 02 phần x 11 kỳ) với số tiền 44.000.000đồng.
31. Dây hụi 1.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 13/8/2020AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 11 kỳ hụi chưa đóng (1.000.000đ x 02 phần x 11 kỳ) với số tiền 22.000.000đồng.
32. Dây hụi 1.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 24/08/2020AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 12 kỳ hụi chưa đóng (1.000.000đ x 02 phần x 12 kỳ) với số tiền 24.000.000đồng.
33. Dây hụi 2.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 03/09/2020AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 12 kỳ hụi chưa đóng (2.000.000đ x 02 phần x 12 kỳ) với số tiền 48.000.000đồng.
34. Dây hụi 1.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 09/09/2020AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 12 kỳ hụi chưa đóng (1.000.000đ x 02 phần x 12 kỳ) với số tiền 24.000.000đồng.
35. Dây hụi 3.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 16/09/2020AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 12 kỳ hụi chưa đóng (3.000.000đ x 02 phần x 12 kỳ) với số tiền 72.000.000đồng.
36. Dây hụi 1.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 12/11/2020AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 14 kỳ hụi chưa đóng (1.000.000đ x 02 phần x 14 kỳ) với số tiền 28.000.000đồng.
37. Dây hụi 10.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 15/12/2020AL có 20 phần, chị M4 gia 01 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 12 kỳ hụi chưa đóng (10.000.000đ x 01 phần x 12 kỳ) với số tiền 120.000.000đồng.
38. Dây hụi 2.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 02/01/2021AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 17 kỳ hụi chưa đóng (2.000.000đ x 02 phần x 17 kỳ) với số tiền 68.000.000đồng.
39. Dây hụi 1.000.000đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 27/01/2021AL có 20 phần, chị M4 gia 02 phần. Chị M3 T3đã hốt hết, còn nợ lại 18 kỳ hụi chưa đóng (1.000.000đ x 02 phần x 18 kỳ) với số tiền 36.000.000đồng.
40. Dây hụi 200.000đồng/ngày cù 20 ngày với số tiền 4.000.000đồng.
- Tổng cộng số tiền hụi chết còn nợ lại là: 1.115.600.000đồng (một tỷ một trăm mười lăm triệu sáu trăm ngàn đồng).
- Đến thời điểm tháng 7/2022 thì tất cả 40 dây hụi trên đều đã mãn hụi, chị T6 đóng thay cho chị M5 phần hụi chết mà chị M6 nghĩa vụ phải đóng nêu trên.
- Chị T7 yêu cầu vợ chồng chị M3 T3trả số tiền hụi còn nợ lại nhưng chị M3 T3hứa hẹn nhiều lần và hứa trả dần nhưng chỉ trả cho chị T8 1.900.000đ. Từ ngày 19/5/2021al, chị M7 không đóng hụi chết cho chị T9 chị T10 cầu chị M8 anh T3có nghĩa vụ liên đới trả cho chị T11 tiền là 1.113.700.0000đ, không yêu cầu tính lãi.
- Đối với kết luận giám định của Phòng KCông an tỉnh Đthì nguyên đơn đồng ý với kết luận giám định.
- Tại phiên tòa, do dây hụi cù 20 ngày chị M9 thừa nhận và không có ký tên vào biên nhận nhận tiền hụi nên chị T12 rút lại số tiền nợ hụi là 4.000.000đ của dây hụi này. Nay chị T10 cầu vợ chồng chị M3 T3có nghĩa vụ liên đới trả cho chị T11 tiền nợ hụi là 1.109.700.0000đ (một tỷ một trăm lẻ chín triệu bảy trăm nghìn đồng), không yêu cầu tính lãi.
- Chị Nguyễn Ngọc M10 bày: Chị M11 nhận có tham gia chơi hụi do chị T13 chủ hụi, tham gia bao nhiêu dây hụi, bao nhiêu phần thì chị M9 nhớ. Khi hốt hụi thì chị T7 làm biên nhận cho chị ký tên, nhận tiền hụi. Tuy nhiên, đối với dây hụi ngày 15/12/2020al, chị M12 tham gia chơi hụi 1.000.000đ, chứ không phải 10.000.000đ như chị T6 ghi trong biên nhận. Đối với biên nhận dây hụi này, do chị T14 cho chị ký tên, chị có ký tên nhưng chị không biết là tham gia chơi hụi 10.000.000đ nên chị M9 đồng ý trả số tiền nợ hụi của dây hụi 10.000.000đ này theo yêu cầu của chị T15 chỉ đồng ý trả số tiền nợ hụi của dây hụi là 1.000.000đ. Các biên nhận tiền hụi ngày 22/3/20220al; ngày 25/12/2019al; 08/02/2020al; 19/01/2020al; 18/4/2020al thì chị không có tham gia các dây hụi này, chữ ký trong biên nhận không phải là của chị và chị không có nhận tiền hụi. Tuy nhiên kết luận giám định là của chị thì chị không có ý kiến, cũng không yêu cầu giám định lại.
- Như vậy, chị M11 nhận có tham gia chơi hụi và có hốt hụi do chị T13 chủ hụi, nhưng sau khi hốt hụi thì chị M13 đóng hụi chết lại các dây trước đó. Tại phiên tòa, chị M11 nhận chỉ còn thiếu tiền hụi của chị T16 9 đến 10 triệu đồng (không nhớ dây hụi nào) nên không đồng ý trả số tiền theo yêu cầu của chị T3 1.109.700.000đ.
- Số tiền hốt hụi của chị Tchị M14 vào việc làm vốn mua bán và đóng hụi lại, ngoài ra không dùng vào việc gì khác.
- Việc chị tham gia chơi hụi thì anh T3không biết, anh T3cũng không có nhận tiền hụi từ chị Tchị M15 đồng ý cùng anh Trung liên đtrả nợ hụi cho chị T
- Chị M15 nhớ được ngày chị ngưng đóng hụi cho chị T18 nhớ khoảng thời gian dịch bệnh COVID 19 bùng phát (khoảng tháng 5/2021 âm lịch), bị giãn cách nên chị không mua bán được nên không có tiền đóng hụi.
- Anh Phan N T3trình bày: Việc chị M16 hụi với chị T19 anh không biết, anh không có ký biên nhận nhận tiền hụi của chị TAnh T3là người lo kinh tế gia đình. Chị M17 hụi không đem tiền về đưa cho anh nên anh không đồng ý liên đới cùng chị M18 tiền nợ hụi cho chị T
- Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh đã quyết định:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thanh T20 với số tiền hụi là 4.000.000 đồng.
- Chấp nhận một phần yêu cầu của chị Trần Thanh T21
- Buộc chị Nguyễn Ngọc M19 anh Phan N T3phải có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Trần Thanh T22 tiền nợ hụi còn thiếu là 836.800.000đ (Tám trăm ba mươi sáu triệu tám trăm nghìn đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí giám định, thời hạn kháng cáo của các đương sự và quyền yêu cầu thi hành án.
- Ngày 06/10/2022, chị Trần Thanh T23 cáo yêu cầu chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị T24 chị M19 anh T3phải chịu trách nhiệm liên đới trả cho chị T22 tiền nợ hụi là 1.109.700.000 đồng.
- Ngày 11/10/2022, chị Nguyễn Ngọc Manh Phan N1 T3kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đồng ý trả cho chị T22 tiền hơn 800.000.000 đồng.
- Tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Chị Phan Thị Thảo Q1 bày: Bà T10 cầu xét buộc vợ chồng bà M20 T3trả số tiền 1.109.700.000đ.
+ Bà Nguyễn Ngọc M21 đồng ý trả cho bà T22 tiền 836.800.000đ, chỉ đồng ý trả cho bà T22 tiền khoảng 9.000.000đ đến 10.000.000đ.
+ Ông T3trình bày: Yêu cầu sửa án sơ thẩm và không chấp nhận yêu cầu của bà T25 việc buộc ông liên đới trả nợ.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp ý kiến về giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Xét thấy nguyên đơn và bị đơn không thống nhất được số kỳ nợ hụi của từng dây hụi. Theo bà T26 định đến ngày 19/5/2021 al thì bà M7 đóng hụi, bà M22 thừa nhận. Do 2 bên có thống nhất được số dây hụi tham gia, ngày khui hụi cũng là ngày đóng tiền hụi và thời gian ngưng đóng hụi. Vì vậy dây hụi nào đến ngày 19/5/2021 al đã mãn hụi thì bà M21 có nghĩa vụ phải đóng hụi. Những dây hụi nào tính đến ngày 19/5/2021 al còn lại bao nhiêu kỳ khui hụi chưa đóng thì bà M23 có nghĩa vụ vụ đóng tiếp.
Căn cứ 39 dây hụi thì xác định còn lại 34 dây hụi bà M23 có nghĩa vụ trả cho bà T27 số tiền 836.800.000 đồng, bà T5 có thêm tài liệu chứng khác nên kháng cáo bà T5 có căn cứ
Bà Mkháng cáo cho rằng có tham gia chơi hụi bà T13 chủ nhưng không nhớ bao nhiêu dây, dây nào, số tiền đóng còn lại nợ chết khoảng 9.000.000đ đến 10.000.000 đồng nhưng không cấp tài liệu chứng cứ mới nên không chấp nhận kháng cáo của bà M
Đối với nghĩa vụ liên đới của ông T28 căn cứ chấp nhận vì bà M11 nhận tiền hốt hụi dùng mua bán, đóng hụi lại, mục đích lo phục vụ đời sống kinh tế gia đình, ông T3nói thu nhập 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng/1 tháng nhưng chỉ trình bày không gì chứng minh. Mặt khác ông T3thừa nhận có lần đến nhà bà T29 về việc bà M24 hụi, cũng có lần bà T30 nhà yêu cầu ông T3ký biên nhận hụi nhưng ông T3không ký, điều này chứng tỏ ông T3có biết sự việc này. Hiện nay cả 2 vẫn là vợ chồng hợp pháp, nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên buộc cùng liên đới trả nợ là phù hợp quy định pháp luật.
Từ những nhận định trên, xét thấy kháng cáo của các đương sự là không có căn cứ chấp nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Tbà M25 ông T3giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bà T31 kiện yêu cầu bà M25 ông T32vợ chồng) liên đới trách nhiệm trả tiền hụi, Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh thụ lý giải quyết là phù hợp quy định của pháp luật. Bà Tbà M26 T3kháng cáo trong thời hạn là hợp lệ. Bà T33 quyền cho chị Phan Thị Thảo Q2 tục phù hợp nên chấp nhận.
Theo bà T34 bày, trong thời gian từ cuối năm 2019 đến năm 2021, thì bà T7 làm chủ hụi và có cho bà M4 gia 40 dây hụi, nhưng nay bà T35 lại một phần yêu cầu khởi kiện là không yêu cầu xem xét giải quyết đối với dây hụi 200.000đ/ngày cù 20 ngày với số tiền là 4.000.000đ. Quá trình chơi hụi thì bà M13 hốt hụi toàn bộ các dây hụi nhưng đóng hụi chết còn nợ lại số tiền 1.109.700.000đ, số tiền này bà T6 đóng thay cho bà M25 bà M16 hụi lo cho kinh tế gia đình nên yêu cầu vợ chồng bà M27 trả lại cho bà T5 yêu cầu tính lãi. Bà M11 nhận có tham gia chơi hụi do bà T13 chủ hụi, nhưng đã đóng hụi chỉ còn nợ khoảng 9.000.000đ đến 10.000.000đ nên không đồng ý theo yêu cầu của bà T
Nhận thấy, việc bà M4 gia chơi hụi là có thật và bà M11 nhận khi hốt hụi và nhận tiền thì có ký tên vào các biên nhận tiền, nhưng trong 39 biên nhận thì bà M21 thừa nhận chữ ký tại các biên nhận của các dây hụi ngày 22/3/2020âl, ngày 25/12/2019 âl, ngày 08/02/2020âl, ngày 19/01/2020âl, ngày 18/4/2020âl và không có nhận tiền hụi của các dây hụi này. Tại kết luận giám định số 550/KL/KTHS ngày 01/7/2022 của Phòng KCông an tỉnh Đđã xác định chữ ký tại các biên nhận ngày 22/3/2020âl, ngày 25/12/2019âl, ngày 08/02/2020âl, ngày 19/01/2020âl, ngày 18/4/2020âl là chữ ký của bà MCác nhân chứng như bà T4bà S xác nhận bà M6 tham gia chơi hụi. Tại phiên tòa phúc thẩm bà M22 không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh không có nhận tiền hốt hụi khi ký biên nhận.
Xét đối với dây hụi ngày 15/12/2020âl: Bà MThừa nhận có tham gia chơi dây hụi này nhưng bà cho rằng giá trị của phần hụi là 1.000.000đ là không có cơ sở. Bởi vì, bà M28 không có tham gia dây hụi 10.000.0000đ, tuy nhiên bà M11 nhận có ký tên vào biên nhận ngày 15/12/2020âl nhưng không chứng minh được việc bà T36 nội dung biên nhận loại hụi 10.000.000đ là không đúng. Trong khi đó dây hụi ngày 15/12/2020âl được bà Danh Thị Xuân Đ Quách Thị Mỹ Hvà bà Lê Thị C H1xác nhận bà M6 tham gia và có ghi tên trong sổ hụi là C ÚT(MAI + TRUNG), đồng thời bà Đbà H cho biết thêm là bà M16 một phần và tại kỳ khui hụi ngày 15/3/2021âl bà M29 hụi số tiền 1.500.000đ. Tại phiên tòa phúc thẩm bà M28 không quen biết người làm chứng, không mâu thuẫn gì với người làm chứng và cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh lời người làm chứng là không khách quan. Như vậy việc giao dịch dân sự về hụi do bà T13 chủ có lập sổ hụi và danh sách hụi viên trong đó có bà M(ghi tên là chị út) tham gia tổng cộng 39 dây hụi là có cơ sở.
Bà T yêu cầu vợ chồng bà M18 số tiền 1.109.700.000đ thể hiện tại các biên nhận do bà M30 tên nhận tiền hụi khi hốt hụi, nhưng đóng lại hụi chết không đầy đủ nên bà T37 thay cho bà M31 đến khi mãn hụi thì bà M24 số tiền nêu trên. Khi hốt hụi nếu bà M32 cầu được lãnh tiền một lần đối với những dây hụi bà M4 gia từ hai phần hụi trở lên, thì bà T38 tiền của bà để giao luôn cho bà M33 phần hụi còn lại, vì vậy biên nhận giao tiền hụi cho bà M34 cách tính được thể hiện như nội dung đã ghi giao tiền hụi là phù hợp và bà Mbà T39 nhất góp hụi theo ngày khui hụi. Tuy nhiên việc bà M35 hụi chết thì không có làm biên nhận mà chỉ có bà T40 ghi sổ theo dõi không có chữ ký hoặc chữ viết của bà M36 sổ theo dõi của bà T, nay bà M21 thừa nhận việc ghi chép số liệu theo tài liệu do bà T41 cấp.
Bà M31 rằng bà T đưa cho bà M37 biên nhận để yêu cầu ký nhận số nợ còn lại là 300.000.000đ (bà M21 ký tên), nhưng nay bà T khởi kiện yêu cầu trả số tiền hơn một tỷ đồng. Việc này bà T xác nhận là do bà T42 hụi chết (đóng thay hụi chết) cho bà M38 nhiều, nên bà M39 nhờ bà T29 vay người khác giùm để chàng hụi chết cho bà M40 vợ chồng bà M21 đồng ý ký tên nên không có thực hiện. Tuy nhiên bà M41 định chỉ còn nợ tiền hụi khoảng 9.000.000đ đến 10.000.000đ nhưng cũng thừa nhận không có chứng cứ chứng minh.
Qua nội dung trên cho thấy, bà T43 là bà M21 thực hiện đóng hụi chết đầy đủ nhưng do tin tưởng bà M42 vẫn cho bà M43 tục tham gia; thực tế bà M6 tham gia 39 dây hụi thể hiện tại các biên nhận tiền hụi từ năm 2019 đến tháng 02 năm 2021. Nay bà T44 rằng bà M7 đóng hụi chết từ ngày 19/5/2021âl, còn bà M28 do dịch bệnh Covid 19 phải giãn cách xã hội theo quy định nên ngưng đóng hụi từ tháng 5 năm 2021âl, vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm xác định những dây hụi nào đã mãn trước ngày 19/5/2021âl thì được xác định là bà M13 thực hiện xong nghĩa vụ nên không chấp nhận yêu cầu của bà T3 phù hợp, bởi vì: Bà T45 bà M44 thống nhất ngày khui hụi thì bà M6 đóng lại hụi chết nhưng việc đóng tiền hụi không làm biên nhận, đồng thời giữa bà T46 bà M21 thực hiện đối chiếu về việc bà M45 tiếp đóng hụi chết hay là bà T là người đóng hụi chết thay cho bà M46 ký xác nhận vào sổ theo dõi của bà T47 làm căn cứ chứng minh các dây hụi đã mãn này có việc bà T37 chàng hụi chết và bà T46 bà M47 nhất không còn giao dịch nào khác. Cụ thể không chấp nhận yêu cầu của bà T48 bà M18 tiền hụi gồm: Bốn dây hụi 200.000đ khui ngày 04/11/2020, ngày 06/11/2020, ngày 19/02/2020, ngày 11/02/2020 và một dây hụi 500.000đ khui ngày 08/11/2020. Thời gian từ ngày 19/5/2021 trở về sau được hai bên thống nhất là bà M7 đóng hụi chết và bà T49 đóng chàng hụi chết cho bà M42 chấp nhận yêu cầu của bà T45 buộc bà M23 có nghĩa vụ trả 34 dây hụi còn lại số tiền là 836.800.000đ là có cơ sở.
Đối với kháng cáo của ông Phan N1 T3về việc không đồng ý chịu trách nhiệm liên đới trả số tiền 836.800.000đ: Xét thấy ông T3cho rằng ông là người lo kinh tế gia đình, thu nhập của ông từ việc làm thuê cho người khác (làm vườn) mỗi tháng từ 20.000.000đ đến 30.000.000đ nhưng ông cũng thừa nhận không có chứng cứ chứng minh. Đối với bà M48 cho rằng việc tham gia chơi hụi là để buôn bán bánh tiêu nhỏ lẻ tại chợ xã là chưa phù hợp, đồng thời bà M11 nhận tiền hốt hụi không có sử dụng vào việc khác của cá nhân. Tại phiên tòa phúc thẩm ông T3thừa nhận bà M22 không có sử dụng tiền để lo cho người thân như con chung của vợ chồng hay là anh em (cha mẹ chết) hoặc người nào khác. Mặt khác ông T3xác nhận có gặp bà T47 hỏi bà M16 hụi nợ bao nhiêu tiền và bà T7 đến nhà ông đòi nợ hụi nhưng ông không đồng ý ký tên biên nhận nợ. Qua đó cho thấy tiền hốt hụi của bà M36 thời gian dài từ năm 2019 đến năm 2021 mục đích là sử dụng cho nhu cầu kinh tế chung của gia đình trong thời kỳ hôn nhân, vì vậy nghĩa vụ vợ chồng cùng liên đới trả nợ là phù hợp quy định của pháp luật nên kháng cáo của ông T3là không có cơ sở.
Luật sư M49 T1bảo vệ quyền lợi cho bà T50 nghị chấp nhận kháng cáo của bà T, buộc bà M25 ông Trung l đtrách nhiệm trả cho bà T22 tiền 1.109.700.000đ là không có cơ sở nên không chấp nhận.
Luật sư Cao M50 T2bảo vệ quyền lợi cho bà M25 ông T3đề nghị chấp nhận kháng cáo của bà M25 ông T51 nhận theo yêu cầu của bà M51 ý trả cho bà T22 tiền 9.000.000đ đến 10.000.000đ là không có cơ sở nên không chấp nhận.
Đại diện Viện kiểm sát Tỉnh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà Tbà M26 T3Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm là có cơ sở nên chấp nhận.
Tòa án cấp sơ thẩm xử đã có căn cứ pháp luật do đó giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T52 Mvà ông T53 phần khác không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Án phí: Bà Tbà M25 ông T3mỗi người phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm là 300.000đ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; 148, 161; 217, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự dân sự năm 2015. Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 27 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Điều 17; khoản 1 Điều 24 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về họ, hụi, biêu, phường. Điều 26, 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thanh Tbà Nguyễn Ngọc M52 ông Phan N1 T3.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thanh T20 với số tiền hụi là 4.000.000 đồng.
- Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Trần Thanh T21
- Buộc bà Nguyễn Ngọc M52 ông Phan N1 T3phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thanh T22 tiền nợ hụi còn thiếu là 836.800.000đ (Tám trăm ba mươi sáu triệu tám trăm nghìn đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí:
+ Bà Nguyễn Ngọc M52 ông Phan N1 T3phải liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 37.104.000 đồng (Ba mươi bảy triệu một trăm lẻ bốn nghìn đồng). Bà Nguyễn Ngọc M52 ông Phan N1 T3mỗi người phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm là 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền 600.000đ đã tạm ứng án phí theo các biên lai thu số 0009925 và số 0009924 cùng ngày 11/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
+ Bà Trần Thanh T54 chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 13.645.000đ và tiền án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền 22.734.000đ đã tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007272 ngày 21/01/2022 và biên lai thu số 0009901 ngày 06/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Bà T55 được nhận lại 8.789.000đ.
4. Về chi phí giám định:
Chi phí giám định chữ ký là 13.890.000đ, bà T6 nộp tạm ứng nên bà M52 ông T3có nghĩa vụ hoàn lại cho bà T22 tiền là 13.890.000đ (Mười ba triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh ĐT; - TAND huyện Cao Lãnh; - Chi cục THADS huyện Cao Lãnh; - Đương sự; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Vạng |