vanban.org

Bản án 153/2022/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 04/07/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/07/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Thanh H - Sửa Bản án sơ thẩm số 92/2022/HS-ST, ngày 15/4/2022 của Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk về điều kiện chấp hành hình phạt. [2] Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Thanh H, phạm tội "Môi giới mại dâm" - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2022/HSPT
Ngày 04 - 7 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thuấn.

Các Thẩm phán: Ông Trương Công Bình và bà Nguyễn Thị Nhung.

- Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Quỳnh Hoa - Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 137/2022/TLPT-HS, ngày 25/5/2022, đối với các bị cáo Lê Thị Thanh H về tội “Môi giới mại dâm”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2022/HS-ST, ngày 15/4/2022 của Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

* Bị cáo có kháng cáo: Lê Thị Thanh H (tên gọi khác: Th); giới tính: Nữ; sinh ngày 26/11/19989, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố 1, phường TL, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở hiện nay: 51/4/17 đường V, phường TL, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; con ông Lê Phú N và bà Trần Thị K; bị cáo chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2021 đến ngày 20/12/2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thị Thanh H quen biết Phạm Thị HT đều không có việc làm ổn định và là gái bán dâm. H và HT thỏa thuận nếu H giới thiệu khách cho HT thì HT sẽ trích lại cho H 40% số tiền mà khách mua dâm trả cho HT. Khoảng 20 giờ ngày 14/12/2021, H nhận được điện thoại của Nguyễn Quốc H1, hai bên thỏa thuận mua bán dâm cho H1 và Nguyễn Bá C, số tiền 1.000.000 đồng/lần/người. H gọi điện thoại rủ HT đi bán dâm. H1 và C đi đặt phòng khách sạn, sau đó báo số phòng cho H và H nhắn tin lại cho HT. Khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, tại Khánh sạn NA, địa chỉ 185 Đường Đ, phường TA, thành phố B, trong khi H đang bán dâm cho H1 tại phòng 304, HT đang bán dâm cho C tại phòng 302 thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ tại hiện trường 01 bao cao su đã qua sử dụng, số tiền 2.000.000 đồng và 03 điện thoại di động.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2022/HSST, ngày 15/4/2022 của Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk quyết định:

Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt Lê Thị Thanh H 01 (một) năm tù, về tội “Môi giới mại dâm”.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/4/2022, bị cáo Lê Thị Thanh H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm tù là có phần nghiêm khắc, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm. Áp dụng khoản 1 Điều 328, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị Thanh H 09 (chín) tháng tù giam.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì và chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 21 giờ 45 phút ngày 14/12/2021, tại phòng 302 Khách sạn NA, địa chỉ 185 Đường Đ, phường TA, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Lê Thị Thanh H đã môi giới cho Phạm Thị HT bán dâm cho Nguyễn Bá C thì bị Công an bắt quả tang. Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Thị Thanh H về tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thì thấy: Mức hình phạt 01 năm tù mà Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là có phần nghiêm khắc, bởi lẽ, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã “thành khẩn khai báo” và tỏ rõ thái độ “ăn lăn hối cải”; bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cơ trú ổn định, rõ ràng; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên cần xem xét áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự để xem xét sửa bản án sơ thẩm về miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, giao bị cáo về chính quyền địa phương giám sát cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm ở địa phương.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Thanh H - Sửa Bản án sơ thẩm số 92/2022/HS-ST, ngày 15/4/2022 của Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk về điều kiện chấp hành hình phạt.

[2] Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Lê Thị Thanh H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Môi giới mại dâm”. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 04/7/2022).

Giao bị cáo Lê Thị Thanh H cho Ủy ban nhân dân phường phường TL, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Thị Thanh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ