vanban.org

Bản án 153/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 24/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Nguyễn Thị N 18 (mười tám) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/5/2022.

Sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 674.667đ (sáu trăm bảy mươi tư nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng). (Theo Biên bản giao nhận tài sản số 82/2022/BBGN-CQCSĐTCATP Hạ Long ngày 17/6/2022, tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Ninh) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Nguyễn Thị N 18 (mười tám) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/5/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẠ LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 153/2022/HS-ST
Ngày 24-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Ngọc An

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Anh Tuấn và chị Phạm Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Cảnh, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 128/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2022; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Nguyễn Thị N (tên gọi khác: không), sinh ngày 08 tháng 10 năm 1983; tại: tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ 4, khu 5, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Thanh (đã chết) và bà Đào Thị V (đã chết); chồng: Bùi Minh H, sinh năm 1970 (đã ly hôn); con: có 01 con, sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2022, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

* Bị hại: Công ty TNHH V

Địa chỉ trụ sở: tổ 60B, khu 5, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Vũ Đình D, chức danh: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: anh Vũ Thanh T, sinh năm 1994, nơi cư trú: tổ 60B, khu 5, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Hoàng Thị Mai D, sinh năm 1981, nơi cư trú: tổ 31C, khu 3, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. s

2. Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1986, nơi ĐKHKTT: tổ 27, khu 5, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; tạm trú tại: khu 3A, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/3/2022, Công ty TNHH V, địa chỉ tại tổ 60B, khu 5, phường C, thành phố H thuê Nguyễn Thị N làm việc nấu ăn, tạp vụ tại Công ty. Trong thời gian làm việc tại đây, N biết kho ở tầng 2 của Công ty không khóa cửa, bên trong có nhiều hàng hóa gồm các loại chảo và nồi mới nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong kho để bán lấy tiền chi tiêu. Từ ngày 01/4/2022 đến ngày 20/4/2022, N đã nhiều lần lợi dụng sơ hở của Công ty không có người trông coi đã lẻn vào phòng kho ở tầng 2 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: khoảng 13 giờ ngày 01/4/2022, lợi dụng khi nhân viên công ty đã về nghỉ, Nguyễn Thị N đã lấy 01 con dao trong phòng bếp, rồi đi lên phòng kho ở tầng hai của công ty. N mở cửa phòng kho thấy bên trong có 05 thùng hàng bằng bìa cát tông xếp chồng lên nhau, vỏ bên ngoài ghi nhãn hiệu Sunhouse, kích thước khoảng (60x60)cm, để sát cửa ra vào. Ngọc dùng dao rạch 01 thùng thì thấy bên trong có 10 chiếc chảo, bằng kim loại, nhãn hiệu Sunhouse loại có 02 quai xách, đường kính chảo 36cm. N lấy 10 chiếc chảo trên cho vào 01 túi nilon màu đen, xách xuống tầng một đi ra cửa sau rồi lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát (BKS)60LD-7964 chở số chảo trên đến cửa hàng đồ điện gia dụng “C”, thuộc tổ 31C, khu 3, phường C, thành phố H để bán cho chị Hoàng Thị Mai D (là chủ cửa hàng) với giá 500.000 đồng.

Bằng phương thức tương tự, vào các ngày sau đó, Nguyễn Thị N lợi dụng khi nhân viên công ty đã về nghỉ, tiếp tục vào phòng kho ở tầng hai trộm cắp tài sản. Sau đó Nguyễn Thị N đều sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS: 60LD-7964 để chở tài sản trộm cắp mang đi bán, cụ thể:

Lần thứ hai: khoảng 13 giờ ngày 03/4/2022, N lấy trộm 10 chiếc chảo nhãn hiệu Sunhouse, loại có 02 quai xách, đường kính chảo 36cm; 01 chiếc chảo nhãn hiệu Sunhouse, đường kính chảo 26cm; 06 chiếc chảo Sunhouse, đường kính chảo 28cm; 04 chiếc chảo Sunhouse, đường kính chảo 30cm. Sau đó, Ngọc mang số tài sản trên đến cửa hàng đồ điện gia dụng “C” bán với giá 1.050.000 đồng.

Lần thứ 3: khoảng 13 giờ ngày 05/4/2022, N lấy trộm 18 chiếc chảo nhãn hiệu Sunhouse, đường kính chảo 22cm. Sau đó, Ngọc mang đến cửa hàng đồ điện gia dụng “C” bán với giá 360.000 đồng.

Lần thứ 4: khoảng 13 giờ ngày 07/4/2022, N lấy trộm 19 chiếc chảo nhãn hiệu Sunhouse, đường kính chảo 24cm; 04 chiếc chảo nhãn hiệu Sunhouse, loại có 02 quai xách, đường kính chảo 36cm. Sau đó, N mang đến cửa hàng đồ điện gia dụng “C” bán với giá 580.000 đồng.

Lần thứ 5: khoảng 13 giờ ngày 09/4/2022, N lấy trộm 10 chiếc chảo nhãn hiệu Sunhouse, loại có 02 quai xách, đường kính chảo 36cm. Sau đó, N mang đến cửa hàng đồ điện gia dụng “C” bán với giá 500.000 đồng.

Lần thứ 6: khoảng 13 giờ ngày 11/4/2022, N lấy trộm 20 chiếc chảo nhãn hiệu Sunhouse, loại có 02 quai xách, đường kính chảo 34cm. Sau đó, N mang đến cửa hàng đồ điện gia dụng “C” bán với giá 1.000.000 đồng.

Lần thứ 7: khoảng 13 giờ ngày 12/4/2022, N lấy trộm 15 chiếc chảo nhãn hiệu Sunhouse, loại có 02 quai xách, đường kính chảo 34cm; 10 chiếc chảo nhãn hiệu ORKIN, loại có 01 tay cầm, bằng kim loại, đường kính chảo 26cm. Sau đó, Ngọc mang đến cửa hàng đồ điện gia dụng “C” bán với giá 750.000 đồng.

Lần thứ 8: khoảng 13 giờ ngày 13/7/2022, N lây trộm 15 chiêc chảo nhãn hiệu Sunhouse, loại có 02 quai xách, đường kính chảo 34cm. Sau đó, Ngọc mang đến cửa hàng đồ điện gia dụng “C” bán với giá 750.000 đồng.

Lần thứ 9: khoảng 13 giờ ngày 15/4/2022, N lấy trộm 10 chiếc chảo nhãn hiệu Sunhouse, loại có 02 quai xách, đường kính chảo 36cm. Ngọc cho 10 chiếc chảo vào một bao tải dứa màu xanh rồi cầm ra ngoài Công ty. Sau đó, Ngọc gọi cho bạn là anh Hoàng Anh T, sinh năm 1986, địa chỉ: tổ 27, khu 5, phường H, thành phố H đến và nói là “đồ của công ty” nhờ anh T chuyển hộ đến cửa hàng đồ điện gia dụng “C” đưa cho chị Hoàng Mai D. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, N đến cửa hàng “C” gặp chị D lấy số tiền 500.000 đồng.

Lần thứ 10: khoảng 13 giờ, ngày 17/4/2022, N lấy trộm 09 chiếc chảo nhãn hiệu ORIKIN, loại có tay cầm bằng kim loại, đường kính chảo 26 cm. Sau đó, N mang đến cửa hàng đồ điện gia dụng “C” bán với giá 630.000 đồng.

Lần thứ 11: khoảng 13 giờ ngày 19/4/2022, N lấy trộm 04 chiếc chảo nhãn hiệu ORKIN, có tay cầm bằng kim loại, đường kính chảo 28cm; 07 chiếc chảo nhãn hiệu ORKIN, đường kính chảo 30cm. Sau đó, N mang đến cửa hàng đồ điện “C” bán với giá 770.000 đồng.

Lần thứ 12: khoảng 13 giờ ngày 20/4/2022, N lấy trộm 02 bộ nồi nhãn hiệu ORKIN, mỗi bộ có 03 chiếc, kích thước đường kính là 18cm, 20cm, 24cm có nắp vung và 02 tay cầm. Sau đó, N cho 06 chiếc nồi vào chiếc túi nilon rồi cầm ra ngoài công ty. Sau đó, N gọi cho anh Hoàng Anh T đến và nói là “đồ của công ty” nhờ anh T chuyển hộ đến cửa hàng đồ điện gia dụng “C” đưa cho chị D. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, N đến cửa hàng “C” gặp chị D lấy số tiền 2.000.000 đồng là tiền bán số hàng trên.

Tổng số tiền N bán 162 chiếc chảo các loại và 02 bộ nồi là 7.790.000 đồng. Số tiền này, N đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 05/5/2022, anh Vũ Thanh T, người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH V đến cơ quan Công an trình báo sự việc bị mất trộm số tài sản trên. Anh T khai, chiều ngày 26/4/2022, anh T đi kiểm tra hàng hóa tại kho tầng 2 của Công ty thì phát hiện bị kẻ gian trộm cắp 162 chiếc chảo chống dính các loại và 02 bộ nồi nhãn hiệu ORKIN sau đó đã trình báo cơ quan Công an.

Cùng ngày 05/5/2022, Nguyễn Thị N đến cơ quan điều tra Công an thành phố Hạ Long đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp như trên. Ngoài ra, N khai vào ngày 15/4 và ngày 20/4/2022, N có nhờ anh Hoàng Anh T cầm hộ chảo và nồi đến cửa hàng “C” nhưng không nói cho anh T biết là tài sản trộm cắp, mà chỉ nói là đồ của Công ty nhờ chuyển hộ. Khi bán chảo, nồi cho chị D, N không nói cho D biết là tài sản trộm cắp của Công ty.

Chị Hoàng Thị Mai D có lời khai phù hợp với lời khai của Nguyễn Thị N: khoảng 14 giờ ngày 01/4/2022, chị D đang ở cửa hàng đồ điện gia dụng “C” thì có một người phụ nữ giới thiệu tên là N và muốn bán 10 chiếc chảo chống dính, bằng kim loại, có 02 quai xách, nhãn hiệu Sunhouse, đường kính chảo 36cm với giá 50.000 đồng/01 chiếc thì chị D đồng ý mua và trả cho N 500.000 đồng. Sau đó, khoảng 01 đến 02 ngày, N lại mang chảo chống dính với kích thước khác nhau đến bán cho chị D. Từ ngày 01/4/2022 đến ngày 20/4/2022, chị D đã mua của N tổng cộng 162 chiếc chảo các loại nhãn hiệu Sunhoue, ORKIN và 02 bộ nồi nhãn hiệu ORKIN. Chị Hoàng Thị Mai D đã tự nguyện giao nộp 162 chiếc chảo chống dính có nhãn hiệu Sunhouse, ORKIN đã mua của chị Nguyễn Thị N. Riêng hai bộ nồi nhãn hiệu ORKIN mua của N, chị D đã bán cho khách hàng với giá 2.200.000 đồng hiện chưa thu lại được. Chị D đã giao nộp số tiền 2.200.000 đồng cho Cơ quan điều tra. Chị D yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại cho chị số tiền 7.790.000 đồng mà chị đã trả cho bị cáo N.

Tại cơ quan điều tra Hoàng Văn T có lời khai phù hợp với lời khai của Nguyễn Thị N về việc: vào khoảng 13 giờ ngày 15/4/2022, anh T được N nhờ giao hộ 01 bao dứa màu xanh bên trong có đựng một số chảo đến cửa hàng “C” ở gần chợ S, phường C. Khoảng 13 giờ ngày 20/4/2022, N tiếp tục nhờ T giao hộ 01 túi nilon màu đen bên trong có đồ gì thì anh T không rõ cầm đến giao tại cửa hàng “C”. Anh T chỉ giao hộ N, không rõ nguồn gốc số hàng trên từ đâu mà có. Ngoài ra, anh T tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS: 60LĐ-7964 là xe của anh T đã cho N mượn để làm phương tiện đi làm.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 69/KLĐGTS ngày 06/5/2022, của Hội đồng định giá tài sản thành phố Hạ Long kết luận: 18 cái chảo nhãn hiệu Sunhoue, chất liệu kim loại, kích thước đường kính 22cm trị giá 2.081.700đ (hai triệu, không trăm tám mươi mốt nghìn bảy trăm đồng); 19 cái chảo nhãn hiệu Sunhouse, chất liệu kim loại, kích thước đường kính 24cm trị giá 2.382.917đ (hai triệu, ba trăm tám mươi hai nghìn, chín trăm mười bảy đồng); 01 cái chảo nhãn hiệu Sunhouse, chất liệu kim loại, kích thước đường kính 26cm, trị giá 144.330đ (một trăm bốn mươi bốn nghìn, ba trăm ba mươi đồng); 06 cái chảo nhãn hiệu Sunhouse, chất liệu kim loại, kích thước đường kính 28cm, trị giá 957.600đ (chín trăm năm mươi bảy nghìn, sáu trăm đồng); 04 cái chảo nhãn hiệu Sunhouse, chất liệu kim loại, kích thước đường kính 30cm, trị giá 729.867đ (bảy trăm hai mươi chín nghìn, tám trăm sáu mươi bảy đồng); 44 cái chảo nhãn hiệu Sunhouse, chất liệu kim loại, có 02 quai xách, đường kính chảo là 36cm, trị giá 9.883.867đ (chín triệu, tám trăm tám mươi ba nghìn, tám trăm sáu mươi bảy đồng); 40 cái chảo nhãn hiệu Sunhouse, chất liệu kim loại, có 02 quai xách, đường kính chảo là 34cm, trị giá 8.018.000đ (tám triệu, không trăm mười tám nghìn đồng); 19 cái chảo nhãn hiệu ORKIN, chất liệu kim loại, có 01 tay cầm, đường kính chảo là 26cm, trị giá 5.928.000đ (năm triệu, chín trăm hai mươi tám nghìn đồng); 04 cái chảo nhãn hiệu ORKIN, chất liệu kim loại, có 01 tay cầm, đường kính chảo là 30cm, trị giá 2.461.667đ (hai triệu, bốn trăm sáu mươi mốt nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng); 02 bộ nồi nhãn hiệu ORKIN, mỗi bộ có 03 chiếc nồi, kích thước đường kính là 18cm, 20cm, 24cm, chất liệu kim loại, có nắp vung và hai tay cầm, trị giá 1.525.333đ (một triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng). Tổng giá trị tài sản trộm cắp được 35.407.000đ (ba mươi lăm triệu, bốn trăm linh bảy nghìn đồng).

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long đã trả lại 162 chiếc chảo các loại cho anh Vũ Thanh T, đại diện của Công ty TNHH V là chủ sở hữu hợp pháp.

Về bồi thường dân sự: anh Vũ Thanh T là đại diện hợp pháp của Công ty TNHH V, yêu cầu Nguyễn Thị N bồi thường thiệt hại giá trị 02 bộ nồi đã bị mất với tổng số tiền là 1.525.333đ (một triệu, năm trăm hai mươi lăm nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).

Tại bản Cáo trạng số: 132/CT-VKSHL, ngày 27 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh truy tố Nguyễn Thị N, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị N khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Công ty TNHH V như nội dung vụ án nêu trên.

* Phần tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Thị N từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/5/2022.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

+ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long đã trả lại 162 chiếc chảo các loại cho anh Vũ Thanh T, đại diện của Công ty TNHH V là chủ sở hữu hợp pháp;

+ Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 60LD-7964, bị cáo mượn của anh Hoàng Văn T để dùng làm phương tiện chở chảo, nồi trộm cắp được. Quá trình điều tra không xác định được chủ sở hữu hợp pháp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long đã tách ra để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau. Nên không đề cập xử lý.

- Về yêu cầu của bị hại đối với 02 bộ nồi không thu hồi được và về việc xử lý đối với số tiền do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có được do bán tài sản có nguồn gốc phạm tội mà có:

Anh Vũ Thanh T là đại diện hợp pháp của Công ty TNHH V, yêu cầu được trả lại số tiền tương đương với giá trị 02 bộ nồi đã bị mất trộm (theo Kết luận định giá) là 1.525.333đ (một triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng) trong số tiền 2.200.000 đồng mà chị D đã nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long; Đối với số tiền còn lại 674.667 đồng (tiền lãi do chị D bán 02 bộ nồi mà có), anh T không nhận lại và đề nghị sung vào ngân sách nhà nước. Do vậy, căn cứ vào Điều 579, khoản 2 Điều 581 Bộ luật Dân sự cần trả số tiền 1.525.333 đồng cho bị hại. Sau khi trả cho bị hại số tiền 1.525.333 đồng và sung vào ngân sách nhà nước số tiền 674.667 đồng.

- Về nghĩa vụ hoàn trả: quá trình điều tra, chị D yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại cho chị số tiền 7.790.000 đồng. Tuy nhiên, tại Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị D không yêu cầu bị cáo phải có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền 7.790.000 đồng cho chị. Do đó, căn cứ vào Điều 194 Bộ luật dân sự, cần thiết ghi nhận sự tự định đoạt của chị D.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: xét lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2022 đến ngày 20/4/2022, tại Công ty TNHH V thuộc tổ 60B, khu 5, phường C, thành phố H, Nguyễn Thị N đã có hành vi lợi dụng sơ hở, lén lút nhiều lần vào phòng kho tầng 2 của Công ty trộm cắp 162 chiếc chảo các loại nhãn hiệu Sunhouse, ORKIN, với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 35.407.000đ (ba mươi lăm triệu, bốn trăm linh bảy nghìn đồng).

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ.

Vì vậy, Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Thị N, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo thực hiện 12 lần trộm cắp tài sản, trong đó có 11 lần là trên 2.000.000 đồng. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

- Đối với 162 chiếc chảo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long đã trả lại cho Công ty TNHH V. Đến nay, Công ty TNHH V không yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 60LD-7964, bị cáo mượn của anh Hoàng Văn T để dùng làm phương tiện chở tài sản trộm cắp. Quá trình điều tra, không xác định được chủ sở hữu hợp pháp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long đã tách ra để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau. Nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Về yêu cầu của bị hại đối với 02 bộ nồi không thu hồi được và về việc xử lý đối với số tiền do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có được do bán tài sản có nguồn gốc phạm tội mà có:

Đối với 02 bộ nồi, nhãn hiệu ORKIN, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long không thu hồi được để trả cho Công ty TNHH V do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị Mai D đã bán cho khách hàng với giá 2.200.000 đồng, chị D đã giao nộp số tiền trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long. Đến nay, người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH V yêu cầu được hoàn trả số tiền 02 bộ nồi, trị giá theo Kết luận định giá tài sản là 1.525.333 đồng (trong số tiền 2.200.000 đồng nêu trên) và không nhận lại số tiền còn lại là 674.667 đồng (tiền lãi do bán 02 bộ nồi mà có), anh T đề nghị sung vào ngân sách nhà nước số tiền 674.667 đồng.

Xét yêu cầu của bị hại, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: chị Hoàng Thị Mai D không biết số chảo và nồi mà chị đã mua của bị cáo N là do N trộm cắp mà có. Vật chứng không thu hồi để trả cho chủ sở hữu hợp pháp được. Tuy nhiên, chị D đã nộp lại số tiền bán 02 bộ nồi là 2.200.000 đồng. Do vậy, căn cứ vào Điều 579, khoản 2 Điều 581 Bộ luật Dân sự, cần chấp nhận đề nghị của người đại diện hợp pháp của bị hại như nêu trên là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ hoàn trả: quá trình điều tra, chị D yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại cho chị số tiền 7.790.000 đồng. Tuy nhiên, đến nay chị D không yêu cầu bị cáo phải có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền nêu trên cho chị. Do đó, căn cứ vào Điều 194 Bộ luật dân sự, cần thiết ghi nhận sự tự định đoạt của chị D. Nên, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết về trách nhiệm hoàn trả số tiền 7.790.000 đồng của bị cáo N đối với chị D.

Về lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát: Xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được cơ quan điều tra thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định; Tại phiên tòa bị cáo cũng đã thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Nên lời buộc tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Liên quan trong vụ án: đối với chị Hoàng Thị Mai D có hành vi tiêu thụ 162 chiếc chảo và 02 bộ nồi nhãn hiệu ORKIN; anh Hoàng Anh T có hành vi vận chuyển 10 chiếc chảo và 02 bộ nội cho bị cáo nhưng không biết tài sản trên do trộm cắp mà có, nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Thị N 18 (mười tám) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/5/2022.

2. Căn cứ Điều 579, khoản 2 Điều 581 của Bộ luật Dân sự: trả cho Công ty TNHH V số tiền 1.525.333đ (một triệu, năm trăm hai mươi lăm nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).

Sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 674.667đ (sáu trăm bảy mươi tư nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng).

(Theo Biên bản giao nhận tài sản số 82/2022/BBGN-CQCSĐTCATP Hạ Long ngày 17/6/2022, tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Ninh)

3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1, 4 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: bị cáo Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản Bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Cỡ chữ