- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa bà Trần M và ông Nguyễn T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần M.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. V TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 153/2022/HNGĐ-ST Ngày: 29-9-2022 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Huê
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Văn Trường
2. Ông Đặng Song Hoàn
- Thư ký phiên toà: Bà Đậu Thị Hiền– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V tham gia phiên toà: Bà Trần Hồng Gấm– Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở tòa án nhân dân thành phố V, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 657/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2022, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 90A/2022/QĐ-ST ngày 12 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần M, sinh năm 1999.
Địa chỉ: đường Q, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn T, sinh năm 1999.
Địa chỉ: đường G, Phường M, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 5 năm 2022 và quá trình làm việc tại Tòa án nguyên đơn bà Trần M trình bày:
Bà và ông Nguyễn T sau một thời gian tìm hiểu thì tự nguyện tiến hành đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu vào ngày 08 tháng 11 năm 2021. Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông T thường xuyên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ông T ham chơi, thường xuyên bỏ nhà đi, ông T không có trách nhiệm với gia đình, mỗi lần cãi nhau ông T thường đập phá đồ đạc trong nhà, ngoài ra ông T có ngoại tình với người phụ nữ khác, tuy nhiên về việc ông T ngoại tình bà M không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh. Bà đã nhiều lần khuyên can ông T từ bỏ ham chơi để tập trung làm ăn lo gia đình nhưng ông T không thay đổi vẫn tiếp tục ham chơi lêu lổng. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn T.
Về con chung: Không.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Nguyễn T: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T đến Tòa án làm việc nhưng ông T không đến làm việc, không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư kí, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Hôn nhân giữa bà M và ông T là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, bà M và ông T không tìm được tiếng nói chung, hôn nhân không hạnh phúc, bà M không còn tình cảm với ông T, mâu thuẫn giữa bà M và ông T trầm trọng kéo dài không thể hàn gắn. Ông T không đến làm việc, hòa giải theo triệu tập của Tòa, không tham gia các phiên tòa, không thể hiện mong muốn, thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm với bà M. Xét mâu thuẫn của bà M và ông T là có thật, cuộc sống hôn nhân của bà M, ông T không tìm được tiếng nói chung, hôn nhân không hạnh phúc, bà M không còn tình cảm với ông T. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M; Về con chung: Không; Về tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu giải quyết nên không đề xuất xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Bà Trần M có đơn khởi kiện về “Ly hôn” với ông Nguyễn T, có nơi cư trú tại thành phố V nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố V theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bà M có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà M và ông T.
. Về quan hệ hôn nhân:
Xét bà Trần M và ông Nguyễn T chung sống và đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố V vào ngày 08 tháng 11 năm 2021. Như vậy, hôn nhân giữa bà M và ông T là hợp pháp.
Trong thời gian bà M và ông T sống với nhau, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà M là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ông T là người ham chơi, không có trách nhiệm với gia đình. Vợ chồng bà M thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc.
Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy triệu tập cho ông T nhưng ông T không đến Tòa án làm việc, từ đó cho thấy ông T không tha thiết hàn gắn tình cảm vợ chồng, chưa thể hiện thiện chí, nguyện vọng muốn hòa giải, đoàn tụ của ông T. Ngoài ra, ông T không tranh thủ sự tác động, động viên, hòa giải của Pháp luật để hàn gắn hôn nhân giữa ông và bà M.
Nay bà M cương quyết ly hôn do không còn tình cảm với ông T. Xét mâu thuẫn của bà M, ông T là có thật, theo chiều hướng kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, khả năng đoàn tụ rất khó khăn. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà M có cơ sở để xem xét nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về con chung: Không.
. Về tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà M phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 của Bộ Luật tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần M.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần M và ông Nguyễn T ly hôn.
2. Về con chung: Không.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà M phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002714 ngày 24 tháng 6 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố V. Như vậy, bà M đã thi hành xong án phí.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh BR-VT; - Viện kiểm sát nhân dân Tp.V; - Chi cục thi hành án dân sự Tp. V; - UBND Phường A, thành phố V - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án./. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Huê |