vanban.org

Bản án 153/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 27/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Hà Văn H 07 (Bảy) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự. Chấp nhận việc bị cáo và gia đình bị hại đã thống nhất thỏa thuận, bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại chi phí chữa trị là 11.097.086 đồng, tiền bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Hà Văn H 07 (Bảy) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2021/HS-ST
Ngày 27-5-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình và bà Lò Thị Minh.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Linh - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lý Hoàng Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 146/2021/TLST-HS ngày 05/5/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2021/QĐXXST- HS ngày 14/5/2021 đối với bị cáo:

Hà Văn H, sinh ngày 16/4/2002 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản L, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Hà Văn X, sinh năm 1977 và bà Bùi T, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2021 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Anh Hoàng Văn T, sinh ngày 23/7/2001. Địa chỉ: Bản L, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Vì Thị H1, sinh năm 1979. Địa chỉ: Bản L, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt.

2. Ông Hà Văn X, sinh năm 1977. Địa chỉ: Bản L, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt.

- Người làm chứng: Chị Hà Thị N, sinh năm 1992, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20h00’ ngày 07/11/2020, sau khi đã uống rượu, Hà Văn H đi đến rạp đám cưới của gia đình Hà Văn H2, sinh năm: 1976, trú quán: Bản L, xã M, huyện M chơi. Khi đi đến trước cổng rạp, H gặp Vì Hoàng P, sinh năm 2004, trú tại: Bản L, xã M, huyện M, H hỏi P “nhìn mặt mày muốn muốn đánh tao à” P im lặng không nói gì, H hỏi tiếp “ Mày là con cháu nhà ai”, P trả lời “Em là con nhà B”, nói xong P đi vào trong rạp đám cưới và đến nói với anh họ của P là Hoàng Văn T “Thằng H nó định đánh em”. Nghe thấy P nói vậy, T đi ra ngoài gặp H và nói “Tại sao mày định đánh em tao”, H trả lời “Mày thích đánh nhau thì ra ngoài đường”. Nói xong H và T lao vào dùng tay chân để đánh nhau và T dùng tay đánh H, được một lúc thì mọi người can ngăn nên không đánh nhau nữa. T đi vào rạp đám cưới ngồi uống nước, còn H đi vào khu vực bếp của nhà anh H lấy 01 con dao đút vào ống tay áo bên trái mục đích để đi gây thương tích cho T. Ngồi uống nước được khoảng 10 phút thì T đi rửa tay và gặp H, H hỏi T “mày có muốn đánh nhau nữa không”, T nói “không đánh nhau gì nữa, mày về đi ngủ đi”, vừa nói xong thì H dùng tay phải rút dao từ trong ống tay áo bên trái dùng phần chuôi dao đập trúng vào vùng thái dương của T, T túm vào phần tay áo bên phải là tay cầm dao của H, được một lúc giằng co thì T không giữ được nữa, lúc này H dùng dao đâm một nhát trúng vào phần bụng dưới bên phải của T, T ôm bụng và bỏ chạy thì được mọi người can ngăn. Hoàng Văn T sau khi bị đâm gây thương tích thành bụng được gia đình đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa Mộc Châu.

Ngày 08/11/2020, Công an xã M đã tiến hành thu giữ 01 con dao dài 41cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 28,5cm do Hoàng Văn M, sinh năm 1958, trú quán: Bản L, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La giao nộp. Ngày 09/11/2020, Công an xã M thu giữ 01 chiếc áo phông màu đen, tại mặt trước có vết rách dài 03cm; 01 chiếc quần vải màu đen tại mặt trước bên trái cách cạp quần 04 cm có vết rách hình chữ V của Hoàng Văn T do Vì Thị H1, sinh năm 1979, trú quán: Bản L, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La (mẹ đẻ của Hoàng Văn T) giao nộp.

Ngày 10/11/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộc Châu tiến hành khám nghiệm hiện trường. Xác định nơi xảy ra vụ án là tại khu vực sân của gia đình Hà Văn H2 tại bản L, xã M, huyện M. Phía Bắc nhà Hà Văn K. Phía Nam giáp đường liên xã M - C. Phía Đông giáp nhà Hoàng Văn V. Phía Tây giáp đường xóm và nhà Đinh Thị N.

Vị trí số 1 là khu vực xảy ra xô xát, đánh nhau giữ Hà Văn H và Hoàng Văn T ở đường dân sinh, cách mép đường liên xã M – C 11m về hướng Nam.

Vị trí số 2 là nơi Hà Văn H dùng dao gây thương tích cho Hoàng Văn T là khu vực sân trước nhà của Hà Văn H2, sân có diện tích 7x10m, cách cửa chính nhà H2 3,5m về hướng Bắc.

Vị trí số 3 là nơi Hà Văn H lấy con dao gây án tại sàn gỗ được sử dụng làm nơi dọn rửa, tiếp giáp với khu nhà tắm, bể nước, sân, cách tường nhà tắm 4,1m về hướng Tây.

Quá trình khám nghiệm hiện trường không phát hiện thu giữ đồ vật gì.

Ngày 01/12/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộc Châu Quyết định trưng cầu giám định số 589, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La giám định tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Hoàng Văn T. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 291/TgT ngày 17/12/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo vết thương phần mềm vùng chẩm (xếp 01%)

- Sẹo vết thương phần mềm vùng bụng (xếp 05%)

- Khâu lỗ đại tràng (xếp 36%)

- Khâu cầm máu mạc nối (xếp 21%)

Căn cứ bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y tế. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 52,44% (làm tròn số: 52%). Theo phương pháp cộng quy định tại Thông tư.

2. Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây ra tại thời điểm giám định của Hoàng Văn T là 52%.

3. Cơ chế hình thành thƣơng tích: Chấn thương phần mềm vùng chẩm, bụng của Hoàng Văn T do tác động trực tiếp của vật có cạnh sắc nhọn và mổ cấp cứu gây ra.

Ngày 29/12/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộc Châu đã ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Hà Văn H nhưng H bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 08/01/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộc Châu ra quyết định truy nã đối với Hà Văn H. Ngày 14/01/2021, Hà Văn H đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộc Châu đầu thú.

Tại bản Cáo trạng số 86/CT- VKS ngày 04 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Hà Văn H, về tội Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Hà Văn H phạm tội Cố ý gây thương tích và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:

1. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn H từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự.

Chấp nhận việc bị cáo và gia đình bị hại đã thống nhất thỏa thuận, bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại chi phí chữa trị là 11.097.086 đồng, tiền bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần là 60.000.000 đồng, tiền mất thu nhập của bị hại và người chăm sóc bị hại bà Vì Thị H1 là 6.800.000 đồng, tổng cộng là 77.897.086 đồng.

Chấp nhận việc ông Hà Văn X (bố đẻ của bị cáo Hà Văn H) đã tự nguyện bồi thường số tiền 1.500.000đ cho bị hại và không yêu cầu bị cáo Hà Văn H phải hoàn trả số tiền 1.500.000đ ông đã bồi thường cho bị hại

Buộc bị cáo Hà Văn H phải tiếp tục bồi thường cho bị hại anh Hoàng Văn T số tiền là 76.397.086 đồng.

3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao nhọn có tổng chiều dài 41cm, phần cán dao làm bằng gỗ có chiều dài 12,5cm, hai đầu cán dao được bọc vòng kim loại rộng 02cm. Phần lưỡi dao bằng kim loại có chiều dài 28,5cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 3,5cm; 01 (một) chiếc áo phông cộc tay màu đen, mặt trước và sau có họa tiết mặt người, dưới hình họa tiết mặt người có ghi dòng chữ “ HAPPINESSEN JOYEDBY THE FEDERAL GANCHA”. Tại mặt trước phần vạt áo bên trái có vết rách dài 03cm, áo có kích thước 68cm x73cm và 01một) chiếc quần vải màu đen, tại mặt trước bên trái, cách cạp quần khoảng 04cm có vết rách hình chữ “V” kích thước 2cm. Quần có kích thước 90cm x 38cm, đều đã qua sử dụng cũ.

4. Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Văn T.

5. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát. Bị cáo có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ ] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ ] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Hà Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với lời khai của bị hại; lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ; bản kết luận giám định pháp y về thương tích; biên bản khám nghiện hiện trường; sơ đồ hiện trường; bản ảnh hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống, vào ngày 07/11/2020 Hà Văn H đã có hành vi dùng dao nhọn là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng bụng của Hoàng Văn T gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 52% (Năm mươi hai phần trăm). Hành vi trên của bị cáo Hà Văn H đã phạm tội: Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự quy định mức hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt. Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn, tuy nhiên đến ngày 14/01/2021 bị cáo đã ra đầu thú. Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần nhỏ thiệt hại cho bị hại, bị hại cũng là người có lỗi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra Hoàng Văn T yêu cầu Hà Văn H phải bồi thường số tiền 87.897.086 đồng, bao gồm: Chi phí chữa trị là 11.097.086 đồng, tiền bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần là 70.000.000 đồng, tiền mất thu nhập của bị hại và người chăm sóc bị hại là bà Vì Thị H1 trong thời gian bị hại điều trị và phục hồi sức khỏe từ ngày 07/11/2020 đến ngày 23/11/2021 là 17 ngày x 200.000 đồng/01 ngày x 02 người = 6.800.000 đồng. Ngày 06/4/2021 ông Hà Văn X (bố đẻ bị cáo H) đã tự nguyện bồi thường cho Hoàng Văn T số tiền 1.500.000 đồng. Số tiền còn lại là 86.397.086 đồng, Hà Văn H chưa bồi thường.

Tại phiên tòa, bị cáo và gia đình bị hại đã thống nhất thỏa thuận, bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại chi phí chữa trị là 11.097.086 đồng, tiền bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần là 60.000.000 đồng, tiền mất thu nhập của bị hại và người chăm sóc bị hại bà Vì Thị H1 là 6.800.000 đồng, tổng cộng là 77.897.086 đồng, trong đó ông Hà Văn X (bố đẻ bị cáo H) đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 1.500.000 đồng, số tiền còn lại là 76.397.086 đồng bị hại yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường. Xét việc thỏa thuận bồi thường là hoàn toàn tự nguyện và có cơ sở. Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 13, 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật dân sự năm 2015, cần chấp nhận và buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền là 76.397.086 đồng.

Đối với số tiền 1.500.000đ của ông Hà Văn X đã bỏ ra để bồi thường cho bị hại. Quá trình điều tra, ông Xuân không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả, xét là tự nguyện, cần chấp nhận.

[ ] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) con dao nhọn có tổng chiều dài 41cm, phần cán dao làm bằng gỗ có chiều dài 12,5cm, hai đầu cán dao được bọc vòng kim loại rộng 02cm. Phần lưỡi dao bằng kim loại có chiều dài 28,5cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 3,5cm được bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Đối với 01 (một) chiếc áo phông cộc tay màu đen, mặt trước và sau có họa tiết mặt người, dưới hình họa tiết mặt người có ghi dòng chữ “ HAPPINESSEN JOYEDBY THE FEDERAL GANCHA”. Tại mặt trước phần vạt áo bên trái có vết rách dài 03cm, áo có kích thước 68cm x73cm và 01 (một) chiếc quần vải màu đen, tại mặt trước bên trái, cách cạp quần khoảng 04cm có vết rách hình chữ “V” kích thước 2cm. Quần có kích thước 90cm x 38cm, đều đã qua sử dụng cũ không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy các vật chứng nêu trên.

[ ] Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi của Hoàng Văn T đã dùng tay đánh nhau với Hà Văn H nhưng không gây thương tích, xét đây chỉ là vi phạm hành chính, ngày 07/4/2021, Công an huyện Mộc Châu đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Văn T là đúng quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

[ ] Về án phí: Bị cáo Hà Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về thời hạn tạm giam của bị cáo: Xét thấy, thời hạn tạm giam của bị cáo còn trên 45 ngày, do đó, Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam bị cáo sau phiên tòa.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội Cố ý gây thương tích.

Xử phạt bị cáo Hà Văn H 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 14/01/2021.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự.

Chấp nhận việc bị cáo và gia đình bị hại đã thống nhất thỏa thuận, bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại chi phí chữa trị là 11.097.086 đồng, tiền bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần là 60.000.000 đồng, tiền mất thu nhập của bị hại và người chăm sóc bị hại bà Vì Thị H1 là 6.800.000 đồng, tổng cộng là 77.897.086đ (Bảy mươi bảy triệu, tám trăm chín mươi bảy nghìn, không trăm tám mươi sáu đồng).

Chấp nhận việc ông Hà Văn X (bố đẻ của bị cáo Hà Văn H) đã tự nguyện bồi thường số tiền 1.500.000đ (Một triệu, năm trăm nghìn đồng) cho bị hại và không yêu cầu bị cáo Hà Văn H phải hoàn trả số tiền trên.

Buộc bị cáo Hà Văn H phải tiếp tục bồi thường cho bị hại anh Hoàng Văn T số tiền là 76.397.086đ (Bảy mươi sáu triệu, ba trăm chín mươi bảy nghìn, không trăm tám mươi sáu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao nhọn có tổng chiều dài 41cm, phần cán dao làm bằng gỗ có chiều dài 12,5cm, hai đầu cán dao được bọc vòng kim loại rộng 02cm. Phần lưỡi dao bằng kim loại có chiều dài 28,5cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 3,5cm; 01 (một) chiếc áo phông cộc tay màu đen, mặt trước và sau có họa tiết mặt người, dưới hình họa tiết mặt người có ghi dòng chữ “ HAPPINESSEN JOYEDBY THE FEDERAL GANCHA”. Tại mặt trước phần vạt áo bên trái có vết rách dài 03cm, áo có kích thước 68cm x73cm và 01một) chiếc quần vải màu đen, tại mặt trước bên trái, cách cạp quần khoảng 04cm có vết rách hình chữ “V” kích thước 2cm. Quần có kích thước 90cm x 38cm, đều đã qua sử dụng cũ.

4. Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Văn T.

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1, 3 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hà Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch làm tròn là 3.820.000đ (Ba triệu, tám trăm hai mươi nghìn đồng).

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ