- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Danh Thế D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; Điều 51 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; Điều 52 Bộ luật Hình sự Tuyên bố
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 153/2021/HS-ST Ngày 02 – 11 – 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Hoài Ân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Hoàng Khởi.
Ông Nguyễn Việt Bằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Như – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Ông Ngô Kiên Định - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 138/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 557/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Danh Thế D, sinh năm 1989 tại Cà Mau; nơi cư trú: số 22A/23, khóm 1, phường N, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh Thế Q và bà Quách Thị Đ (đã chết); vợ, con: chưa có; tiền án: 03 lần. Ngày 14/5/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 21/10/2014 và đã nộp xong án phí vào ngày 01/8/2017. Ngày 17/12/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/9/2016, đã nộp án phí xong vào tháng 4/2016. Ngày 19/12/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/9/2018 nhưng chưa nộp án phí; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 21/9/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/5/2011, nộp án phí xong ngày 27/7/2015. Ngày 29/9/2011, bị chủ tịch UBND thành phố Cà Mau đưa vào Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Cà Mau về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn 24 tháng, chấp hành xong quyết định ngày 29/9/2013. Ngày 19/11/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, hiện chưa chấp hành hình phạt; bị bắt tạm giam từ ngày 09/12/2020 cho đến nay (có mặt).
2. Họ và tên: Lý Văn T, sinh năm 1988 tại Cà Mau; nơi cư trú: khóm 1, phường N, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: bán vé số; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn Đ và bà Trương Thúy K; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: 01 lần. Ngày 20/10/2020, bị Trưởng Công an xã Hòa Thành, thành phố Cà Mau ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 1.500.000đ, nộp phạt xong vào ngày 25/11/2020; nhân thân: Ngày 10/11/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, hiện đang chấp hành quyết định trên cho đến nay; bị bắt tạm giữ, tạm giam: không (có mặt).
3. Họ và tên: Lê Tấn Đ (tên gọi khác: Thổ), sinh năm 1995 tại U Minh, Cà Mau; nơi cư trú: ấp 7, xã Khánh A, huyện U, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoàng V và bà Lê Thị T; vợ Kim Thị Kim A, con 01 người; tiền án: 01 lần. Ngày 24/6/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng kể từ ngày 24/6/2019 về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành xong phần án phí; tiền sự: không; nhân thân: chưa bị xử lý vi phạm hành chính nhưng có án tích; bị bắt tạm giam từ ngày 23/12/2020 cho đến nay (có mặt).
Bị hại:
1. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1962; nơi cư trú: khóm 4, phường A, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
2. Chị Quách Thị Cẩm G1, sinh năm 1988; nơi cư trú: số 410, khóm 2, phường B, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
3. Anh Nguyễn Chí N, sinh năm 1990; nơi cư trú: số 707, đường Tạ Uyên, khóm 3, phường N, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
4. Ông Lương Bích T1, sinh năm 1987; nơi cư trú: ấp Hòa T, xã Hòa T, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
5. Bà Đoàn Thị Cẩm T2, sinh năm 1969; nơi cư trú: số 49A, đường Hùng V, khóm 4, phường C, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
6. Anh Nguyễn Quốc T3, sinh năm 1988; nơi cư trú: đường Dương Văn T, khóm 6, phường N, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2020 đến tháng 11/2020, Danh Thế D cùng Lý Văn T, Lê Tấn Đ đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Cà Mau, cụ thể:
Vụ thứ 1: Khoảng 10 giờ ngày 05/7/2020, Lê Tấn Đ điều khiển xe mô tô biển số 69F6-4506 đến nhà bà Nguyễn Thị Gọn ngụ khóm 4, phường A, thành phố Cà Mau bắt trộm 01 con gà mái nòi thì bị bà G phát hiện, truy hô nên Đ bỏ con gà lại và chạy ra xe tẩu thoát thì bị người dân cùng lực lượng Công an bắt được đưa về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc, Đ thừa nhận việc bắt gà của bà G. Đồng thời, thu giữ con gà mái Đ vừa bắt trộm.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 54/KL-HĐĐG ngày 18/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cà Mau kết luận: tính vào thời điểm ngày 05/7/2020, 01 con gà mái nặng 2,5kg, lông màu trắng, loại gà nòi nuôi thả vườn có giá là 250.000 đồng.
Vụ thứ 2: Sáng ngày 11/10/2020, Danh Thế D đi bộ đến nhà chị Quách Thị Cẩm G1 ngụ khóm 2, phường B, thành phố Cà Mau thì phát hiện cửa nhà không khóa cũng không ai trông coi nên đi vào nhà và đến gần cầu thang lấy trộm 01 máy khoan hiệu DEWALT màu vàng đen và 01 máy khoan hiệu BOSCH màu xanh đen thì bị em ruột của chị G1 phát hiện nên D lấy 02 máy khoan giấu vào người bỏ chạy ra ngoài lộ và đi xe ôm về nhà cất giấu tài sản trên. Đến 08 giờ ngày 12/10/2020, chị G đến Công an phường B trình báo. Cơ quan Công an tiến hành trích xuất Camera tại nhà chị G thì phát hiện D là người lấy 02 máy khoan trên nên ngày 16/10/2020, Công an thành phố Cà Mau mời D đến làm việc. Tại đây, D thừa nhận lấy 02 máy khoan nêu trên và giao nộp 02 máy khoan cho Cơ quan Công an.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 29/KL-HĐĐG ngày 09/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cà Mau kết luận: tính vào thời điểm tháng 10/2020, 01 máy khoan hiệu DEWALT màu vàng đen, đã qua sử dụng giá trị còn lại là 90%, có trị giá là: 3.500.000đ x 90% = 3.150.000 đồng và 01 máy khoan hiệu BOSCH màu xanh đen, đã qua sử dụng giá trị còn lại là 90%, có trị giá là: 3.000.000đ x 90% = 2.700.000 đồng. Tổng giá trị tài sản D chiếm đoạt là 5.850.000 đồng.
Vụ thứ 3: Khoảng 12 giờ ngày 11/10/2020, Lê Tấn Đ điều khiển xe mô tô biển số 69K2-7837 chở Lý Văn T đến trước nhà anh Nguyễn Chí N ngụ khóm 3, phường N, thành phố Cà Mau thì phát hiện 01 cây mai vàng trồng trong chậu nên dừng xe lại và cùng Lý Văn T đi vào nhổ cây mai. Khi lấy được tài sản, cả hai mang ra xe, Đ ngồi sau ôm cây mai còn T điều khiển xe chạy đi đến khóm 2, phường N, thành phố Cà Mau thì bị lực lượng tuần tra Công an phường N phát hiện nên tạm giữ cây mai và Đ, riêng T điều khiển xe chạy thoát. Đối với anh N đến Công an phường N trình báo sự việc.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 136/KL-HĐĐG ngày 09/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cà Mau kết luận: tính vào thời điểm tháng 10/2020, 01 cây mai vàng, hoành gốc 29cm, chiều cao 150cm, tàn chân 150cm, có giá 3.000.000 đồng.
Vụ thứ 4: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 16/10/2020, Lý Văn T điều khiển xe mô tô biển số 54X9-6489 chở Danh Thế D đi đến tiệm tạp hóa của ông Lương Bích T1 thì phát hiện tiệm không có người trông coi nên T dừng xe lại đứng canh đường, còn D đi vào bên trong tiệm lấy trộm 01 thùng bia Larue màu xanh (Larue Special) và 01 thùng bia Sài Gòn màu xanh (Sài Gòn Lager) rồi mang ra xe cho T chở đi thì bị lực lượng tuần tra mởi làm việc thu giữ 02 thùng bia mà D và T vừa trộm được.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 55/KL-HĐĐG ngày 18/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cà Mau kết luận: tính vào thời điểm ngày 16/10/2020, 01 thùng bia Larue màu xanh (Larue Special), loại lon nhôm 330ml, chưa qua sử dụng có giá 215.000 đồng; 01 thùng bia Sài Gòn màu xanh (Sài Gòn Lager), loại lon nhôm 330ml, chưa qua sử dụng có giá 250.000 đồng. Tổng cộng là 465.000 đồng.
Vụ thứ 5: Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 10/11/2020, Lý Văn T điều khiển xe mô tô biển số 54X9-6489 chở Danh Thế D đi đến cửa hàng nông sản Huỳnh Như thuộc khóm 4, phường C, thành phố Cà Mau do bà Đoàn Thị Cẩm T2 làm chủ thì phát hiện cửa hàng không có người trông coi nên T dừng xe lại đứng canh đường còn D đi vào bên trong lấy trộm 03 hộp sữa bột, trong đó có 02 hộp Colos Trum baby, loại 900 gram và 01 hộp hiệu Grow plus, loại 900 gram. Khi lấy được tài sản, D mang ra xe cho T chở đi thì bị người dân phát hiện truy hô nên T bỏ chạy còn D thì bị bắt cùng tang vật.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 12/KL-HĐĐG ngày 21/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cà Mau kết luận: tính vào thời điểm tháng 11/2020, 02 hộp Colos Trum baby, loại 900 gram có giá 480.000 đồng/hộp, 02 hộp có giá là 960.000 đồng; 01 hộp hiệu Grow plus, loại 900 gram có giá 380.000 đồng. Tổng cộng là 1.340.000 đồng.
Vụ thứ 6: Khoảng 11 giờ ngày 10/11/2020, Lý Văn T điều khiển xe mô tô biển số 54X9-6489 chở Danh Thế D đi đến nhà anh Dương Quốc T3 ngụ khóm 6, phường N, thành phố Cà Mau thì phát hiện không có người trông coi tài sản nên T dừng xe lại đứng canh đường, còn D đi vào nhà ông T3 lấy trộm cây thang xếp bằng nhôm, hiệu HAKAWA. Sau đó, mang ra xe cho T chở đi và bán cho ông Nguyễn Thanh Hùng với giá 400.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 07/KL-HĐĐG ngày 11/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cà Mau kết luận: tính vào thời điểm tháng 11/2020, 01 cây thang xếp bằng nhôm, hiệu HAKAWA –HK144, dài 4,4m bằng nhôm màu trắng, phàn nhựa phối màu đen đã qua sử dụng, giá trị còn lại 95%, có giá là 2.500.000 đồng x 95% = 2.375.000 đồng.
Quá trình điều tra, Danh Thế D cùng Lý Văn T và Lê Tấn Đ thừa nhận hành vi phạm tội đã thực hiện.
Tại Cáo trạng số: 137/CT-VKS ngày 15/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã truy tố bị cáo Danh Thế D, về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm b, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự và truy tố các bị cáo Lý Văn T, Lê Tấn Đ về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Vẫn giữ quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo DanhThế D, Lý Văn T và Lê Tấn Đ phạm tội trộm cắp tài sản. Đồng thời, đề nghị: áp dụng điểm b, g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo D từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 và điểm h, g khoản 1 Điều 52, Điều 56 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tù và tổng hợp hình phạt của bản án số: 22/2019/HS-ST ngày 24/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau buộc bị cáo Đ chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm 03 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự và vật chứng thu giữ: Tài sản đã trao trả lại cho bị hại, hiện bị hại không đặt ra yêu cầu gì nên không đề cập xem xét. Đối với xe mô tô hiệu Max mang biển số 54X9-6489 ngày 20/10/2020, Công an xã Hòa Thành đã trả lại xe cho T. Quá trình điều tra, thể hiện biển số xe trên là của bà Lê Thị Nê đăng ký sở hữu. Qua làm việc, bà Nê đang quản lý xe, không bị mất biển số, không bị mất giấy đăng ký. Riêng T sau khi nhận lại xe, T bị bắt đi cai nghiên bắt buộc nên bà Khưu Châu là bà nội của T đã bán xe trên cho người khác, hiện không tìm được người mua nên không thu hồi được. Công an thành phố Cà Mau đã ra thông báo truy tìm vật chứng số 120 ngày 10/5/2021 đối với xe trên nên không đề cập xem xét. Đối với ông Nguyễn Thanh Hùng khi mua cây thang của T, ông Hùng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, hiện ông Hùng không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không đề cập xử lý, còn các tài sản khác đã được xử lý trong quá trình điều tra nên không xem xét. Về án phí, xử lý theo quy định.
- Bị cáo trình bày lời bào chữa: Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố không oan sai, đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện nhưng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Với hành vi đã thực hiện và lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa, cho thấy: Danh Thế D không có nghề nghiệp, đã 03 lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản và đã bị xem là tái phạm, trong thời gian chưa được xóa án tích D đã có hành vi lén lút vào nhà của chị Quách Thị Cẩm G1 ngụ tại khóm 4, phường B, thành phố Cà Mau lấy trộm 01 máy khoan hiệu DEWALT và 01 máy khoan hiệu BOSCH vào ngày 11/10/2020, có tổng giá trị 5.850.000 đồng. Ngày 16/10/2020, tại ấp Hòa Trung, xã Hòa Thành, thành phố Cà Mau D cùng T lấy trộm của ông Lương Bích T1 02 thùng bia có tổng giá trị 465.000 đồng đến ngày 10/11/2020, D và T tiếp tục lấy trộm của chị Đoàn Thị Cẩm T2 ngụ khóm 4, phường C, thành phố Cà Mau 03 hộp sữa các loại, có tổng giá trị 1.340.000 đồng và cùng ngày, D cùng T lấy trộm của anh Nguyễn Quốc T3 01 cây thang xếp hiệu HAKAWA-HK144, có giá trị 2.375.000 đồng.
Đối với Lý Văn T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, ngoài các lần trộm cắp tài sản cùng với D như nêu trên thì T còn cùng Lê Tấn Đ lấy trộm 01 cây mai vàng của anh Nguyễn Chí N vào ngày 11/10/2020 tại khóm 3, phường N, thành phố Cà Mau, tài sản Đ và T chiếm đoạt có giá trị 3.000.000 đồng.
Đối với Lê Tấn Đ đã bị kết án nhưng cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản, trong thời gian thử thách ngoài lần thực hiện hành vi lấy trộm tài sản cùng với T thì vào ngày 05/7/2020, Đ còn trộm cắp 01 con gà mái nòi của bà Nguyễn Thị G tại khóm 4, phường A, thành phố Cà Mau có giá trị 250.000 đồng.
Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại cùng với các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra, phù hợp với kết luận định giá tài sản. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Riêng bị cáo Danh, tại bản án số: 223/2017/HS-ST ngày 19/12/2017, đã xác định bị cáo phạm tội thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt của bản án này vào ngày 05/9/2018 nhưng kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù cho đến nay bị cáo chưa chấp hành xong phần án phí lại thực hiện hành vi phạm tội mới và trong khoảng thời gian ngắn, bị cáo đã 04 lần thực hiện liên tục hành vi lấy trộm tài sản của người khác trong khi, bản thân bị cáo không làm bất kỳ công việc gì để tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân nên đủ cơ sở để xác định bị cáo thực hiện việc trộm cắp tài sản của người khác làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Danh về tội "Trộm cắp tài sản" với tình tiết định khung “có tính chất chuyên nghiệp”, “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và truy tố các bị cáo Tỷ, Đạt về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã lợi dụng sự sở hở của bị hại trong việc quản lý tài sản, đã lén lúc thực hiện hành vi lấy trộm tài sản là xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo có nhân thân không tốt, trong đó bị cáo D đã nhiều lần bị Tòa án xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị Chủ tịch UBND thành phố Cà Mau ra quyết định đưa đi giáo dục và bị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thế nhưng, bị cáo vẫn không sửa đổi lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên ngoài việc bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố các tình tiết định khung hình phạt là “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” và “ tái phạm nguy hiểm”, bị cáo còn bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 16/10/2020, do chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị xử phạt về tội này và tài sản trộm cắp có giá trị 456.000 đồng nên bị Trưởng Công an xã Hòa Thành, thành phố Cà Mau ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng, đã nộp phạt xong vào ngày 25/11/2020 nhưng bị cáo không biết cải sửa bản thân lại tiếp tục thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Đ, trong thời gian thử thách của án treo lại thực hiện hành vi phạm mới nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án số: 22/2019/HS-ST ngày 24/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau và tổng hợp hình với hình phạt của bản án này theo quy định tại Điều 56 và khoản 5 Điều 60 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung. Bên cạnh đó, bị cáo cũng bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” và tình tiết “tái phạm” theo quy định tại điểm h, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo D, T có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo Đ có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành thật khai báo, ăn năn hối cải và gây thiệt hại không lớn nên áp dụng tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo.
Với đánh giá tại các đoạn [1], [2] và [3] trên, Hội đồng xét xử thấy rằng các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạn giản đơn, không có tổ chức nên mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với các bị cáo đảm bảo được tính răn đe và phòng ngừa chung nên chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự, các bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về vật chứng của vụ án đã được xử lý trong quá trình điều tra và việc xử lý này là đúng nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Về thủ tục tố tụng, các bị hại đã được triệu tập hợp lệ song do vắng mặt không lý do. Riêng chị T2, anh T3 do bận công việc nên xin vắng mặt trong các lần Toà án xét xử vụ án. Xét thấy, việc vắng mặt của các bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử, hiện các anh chị cũng không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án.
Đối với Nguyễn Thanh Hùng, khi mua tài sản không biết là do phạm tội mà có và quá trình điều tra, ông Hùng cũng không đặt ra yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Viện kiểm sát không xem xét xử lý và Hội đồng xét xử không đưa vào tham gia tố tụng là phù hợp.
Về án phí, các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b, g khoản 2 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Danh Thế D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Danh Thế D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/12/2020.
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lý Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lý Văn T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 và điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 56 của Bộ luật Hình sự
Tuyên bố bị cáo Lê Tấn Đ (Thổ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Tấn Đ (Thổ) 02 (hai) năm tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt với bản án số: 22/2019/HS-ST ngày 24/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, buộc bị cáo Đ (Thổ) chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 23/12/2020.
4. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo phải nộp số tiền là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng – chưa nộp).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các bị cáo; Bị hại; - VKSND Tp.Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; - Cơ quan CSĐT Công an Tp.Cà Mau; - Cơ quan THA hình sự Tp.Cà Mau; - Cơ quan thi hành án dân sự Tp.Cà Mau; - Nhà tạm giữ CATp.Cà Mau; - Lưu hồ sơ; Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lâm Hoài Ân |