- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56, 81, Điều 82 và Điều 83, Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụ…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƢƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 153/2020/HNGĐ-ST Ngày 16 tháng 9 năm 2020 V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH NA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Trường Giang
Các Hội thẩm nhân dân
Ông Trần Đình Tâm.
Ông Hoàng Văn Bình.
Thư ký phiên toà : Ông Nguyễn Xuân Tráng - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh NA.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh NA tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trà - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương xét xử công khai vụ án thụ lý số 100/ 2020/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 6 năm 2020 về việc Tranh chấp Hôn nhân gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76 /2020/QĐST-HNGĐ, ngày 04 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1994; Nơi ĐKNKTT: Xóm Yên Quang, xã TY, huyện TC, tỉnh NA.
Chỗ ở hiện nay: Xóm 6, xã XT, huyện TC, tỉnh NA.
Có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Anh Đinh Sỹ TR, sinh năm 1993; Nơi ĐKNKTT: Xóm Yên Quang, xã TY, huyện TC, tỉnh NA.
Hiện đang chấp hành án tại Đội 38, Phân trại số 1, Trại giam số 6, Bộ Công An.
Địa chỉ: xã Hạnh Lâm, huyện TC, tỉnh NA.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nh trình bày:
Chị và anh Đinh Sỹ TR kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã XT, huyện TC, tỉnh NA vào ngày 25 tháng 12 năm 2014. Sau khi kết hôn xong vợ, chồng về sống chung hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn trầm trọng nhất là kể từ đầu năm 2019 từ khi anh Đinh Sỹ TR phạm tội thì vợ chồng đã sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ cho đến nay
Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị là do tính tình vợ chồng sống không hợp nhau. Nay chị xét thấy tình cảm không còn nữa nên nguyện vọng của chị là muốn được ly hôn với anh Đinh Sỹ TR.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 1 con chung Đinh Thịnh Thanh Th, sinh ngày 01 tháng 5 năm 2016. Nay ly hôn nguyện vọng của chị là muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đinh Thịnh Thanh Th và không yêu cầu anh Đinh Sỹ TR góp cấp dưỡng nuôi con.
Về phân chia tài sản: Chị không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của bị đơn anh Đinh Sỹ TR.
Anh thừa nhận về điều kiện kết hôn của vợ chồng đúng như chị Nguyễn Thị Nh đã trình bày. Anh và chị kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã XT, huyện TC, tỉnh NA vào ngày 25 tháng 12 năm 2014. Sau khi kết hôn xong vợ chồng về sinh sống với nhau hạnh phúc chứ không mâu thuẫn gì.
Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng đang còn nên việc chị Nguyễn Thị Nh xin ly hôn với anh thì anh không nhất trí.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Đinh Thịnh Thanh Th, sinh ngày 01/5/2016. Nếu vợ chồng ly hôn nhau thì anh có nguyện vọng để cháu Đinh Thịnh Thanh Th cho bố mẹ anh nuôi dưỡng vì bản thân anh hiện đang chấp hành án.
Về tài sản anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh NA phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý giải quyết cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án hoàn toàn tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự các Điều 51, Điều 56 , Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử :
- Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị Nh được ly hôn với anh Đinh Sỹ TR
- Về con chung: Giao cháu Đinh Thịnh Thanh Th cho chị Nguyễn Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Đinh Sỹ TR.
- Về tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Nguyễn Thị Nh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Tranh chấp Hôn nhân gia đình được quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Cho nên việc thụ lý, giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh NA.
Trong quá trình giải quyết vụ án do bị đơn đang chấp hành án tại Phân trại Số 1, Trại giam số 6 cho nên Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn anh Đinh Sỹ TR. Nhưng anh đều không có mặt. Đây là vụ án không tiến hành hòa giải được. Vào ngày 27 tháng 8 năm 2020 Tòa án đã mở phiên tòa xét xử nhưng anh Đinh Sỹ TR vẫn vắng mặt. Nay việc xét xử vắng mặt bị đơn là hoàn toàn phù hợp với pháp luật.
Về nội dung vụ án: Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Nh và anh Đinh Sỹ TR là hôn nhân hợp pháp. Hai bên kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã XT, huyện TC, tỉnh NA vào ngày 25 tháng 12 năm 2014 theo quy định. Sau khi kết hôn xong cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp nhau. Nay chị Nguyễn Thị Nh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên có nguyện vọng được ly hôn với anh Đinh Sỹ TR. Mặc dù anh Đinh Sỹ TR cho rằng tình cảm vợ chồng đang còn nên nguyện vọng của anh là muốn đoàn tụ. Nhưng xét thấy sau khi kết hôn xong vợ chồng về sống với nhau được một thời gian ngắn thì anh Đinh Sỹ TR phạm tội phải đi chấp hành án với thời hạn là 8 năm, điều đó thể hiện làm mất niềm tin của chị Nguyễn Thị Nh. Cho nên việc kéo dài cuộc hôn nhân này cũng chỉ mang tính hình thức chứ mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Cho nên việc xử cho chị Nguyễn Thị Nh được ly hôn với anh Đinh Sỹ TR là phù hợp với quy định.
Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng có 1 con chung đó là Đinh Thịnh Thanh Th, sinh ngày 01 tháng 5 năm 2016. Nay ly hôn nguyện vọng của chị Nguyễn Thị Nh là muốn được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh Đinh Sỹ TR phải góp cấp dưỡng nuôi con cho chị. Xét thấy yêu cầu của chị Nguyễn Thị Nh là hoàn toàn chính đáng. Hiện nay anh Đinh Sỹ TR đang chấp hành án tại Trại giam số 6 Bộ Công An cho nên không thể giao con cho anh trực tiếp được mà việc giao cho chị Nguyễn Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Đinh Sỹ TR là phù hợp pháp luật.
Về phân chia tài sản chung: Không ai có yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Về ý kiến phát biểu của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh NA tại phiên tòa. Xét thấy việc tuân theo quy định pháp luật và các nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ án là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56, 81, Điều 82 và Điều 83, Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Nh được ly hôn anh Đinh Sỹ TR.
Về trách nhiệm nuôi con: Giao con chung của vợ chồng là Đinh Thịnh Thanh Th, sinh ngày 01 tháng 5 năm 2016 cho chị Nguyễn Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Đinh Sỹ TR.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghÜa vô thăm nom con mà không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này.
Về chia tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Nh phải chịu 300.000 ( Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004405 ngày 05 tháng 6 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC, tỉnh NA. Chị Nguyễn Thị Nh đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Nghệ An - VKS huyện Thanh Chương - Chi cục THA dân sự - Các đương sự. - UBND xã XT - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Thái Trƣờng Giang |