- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Đức T phạm tội “Trộm cắp Tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 153/2019/HS-ST Ngày: 09 - 10 -2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Ngọc Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Sáu
Ông Lê Ngọc Hóa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 10 năm 2019 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 153/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2019/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Lâm Đức T, sinh năm 1987, tại: Bến Tre; Hộ khẩu thường trú: xã B, huyện T, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn B và bà Lê Thị R; Chưa có vợ; tiền sự: không; tiền án: không; nhân thân: Ngày 17/10/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xử phạt 03 năm 6 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 196/2008/HSPT); tạm giữ, tạm giam ngày: 23/6/2019; (Có mặt).
Bị hại: Anh Nguyễn Phước M, sinh năm 1998; Trú tại: đường S, Phường L, quận Gò Vấp, TP. HCM; (Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Huỳnh Ngọc Tường V, sinh năm 2000; Trú tại: đường P, Phường L, quận Gò Vấp, TP. HCM; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 05 giờ 30 ngày 23/6/2019, Lâm Đức T một mình đi bộ trong khu vực chợ Thạch Đà quận Gò Vấp tìm tài sản sơ hở thì lấy trộm. Khi đến Kiot bán hải sản đường S, phường L, quận Gò Vấp do anh Nguyễn Phước M làm chủ. Trí nhìn thấy chiếc xe máy hiệu Honda Blade biển số 79D1-644.98 dựng trước kiot, chìa khóa còn cắm trên ổ khóa nên T vào giả vờ hỏi mua hải sản. Lợi dụng lúc anh M vào bên trong cân hải sản T leo lên xe nổ máy chạy tẩu thoát thì bị anh M phát hiện chạy bộ đuổi theo dùng chân đạp ngã xe, bắt T giao cho Công an phường L, quận Gò Vấp lập biên bản phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan điều tra Lâm Đức T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Vật chứng vụ án:
- 01 chiếc xe máy hiệu Honda Blade biển số 79D-644.98. Tại bản kết luận định giá số 162/KL ngày 26/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp kết luận: Ước tính giá trị xe máy Blade, số khung RLHJA3658GY-164498, số máy JA36E-0723660, do Công ty Honda Việt Nam sản xuất, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 23/6/2019 là 16.500.000 đồng.
Qua xác minh, chiếc xe máy trên do chị Huỳnh Ngọc Tường V đứng tên sở hữu. Tháng 6/2019, chị V giao xe cho anh M (là bạn của V) mượn sử dụng. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy cho chị V.
Tại bản cáo trạng số 150/CTr-VKS, ngày 28/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Lâm Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017;
- Xử phạt bị cáo Lâm Đức T từ 01 năm đến 01 năm 6 tháng tù.
- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Lâm Đức Trí đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Lâm Đức T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.
Lợi dụng sự sơ hở của bị hại, bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản rất táo bạo và liều lĩnh. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân của mình mà không phải thông qua lao động chân chính bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật. Xét nhân thân bị cáo đã có 01 tiền án về hành vi “Cố ý gây thương tích” (đã được xóa án) lẽ ra bị cáo phải biết tự sữa chữa rèn luyện lại lối sống của mình, bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức bị cáo xem thường pháp luật. Vì vậy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác.
Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa hôm nay bị hại anh Nguyễn Phước M vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện anh M và chị Huỳnh Ngọc Tường V (là chủ xe) đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt, hiện không thắc mắc hay khiếu nại gì nên tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe gắn máy hiệu Blade biển số 79D1-644.98 qua xác minh do chị Huỳnh Ngọc Tường V đứng tên chủ sở hữu. Vào tháng 6/2019, chị V giao xe cho anh M (là bạn của V) mượn để sử dụng. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy Honda Blade biển số 79D-644.98 cho chị V. Hội đồng xét xử nhận thấy việc trả lại tài sản đó là đúng quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lâm Đức T phạm tội “Trộm cắp Tài sản”;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017;
Xử phạt bị cáo Lâm Đức T 01 (một) năm tù. Thời hạ n tù đượ c tí nh kể từ ngà y tạm giữ, tạm giam 23/6/2019.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - Viện kiểm sát Q. Gò Vấp; - Thi hành án Q. Gò Vấp; - Công an Q. Gò Vấp; - Bị cáo; - Bị hại - Người CQLNVLQ - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Hoàng Ngọc Hải |