- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vu an hon nhan"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| T N NH N N C N H THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH T ỀN N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 153/2019/HNGĐ-ST; Ngày: 16-7-2019. Vv tranh chấp: Xin ly hôn, tranh chấp con chung và cấp dưỡng nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC C N H
H CH N H V T N M
T
N NH N N THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH T ỀN
N
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Trang;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Long;
2. Bà Phan Thị ẹp.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho;
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Ông Ngô Trung Hiếu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 284/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2019 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2019/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm 1984;
Địa chỉ: ấp Th, xã T, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Nguyễn ức M, sinh năm 1980;
Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
(Chị H có mặt, anh M vắng mặt)
N
UN VỤ N:
* Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai ngày 22 tháng 4 năm 2019 và các lời trình bày tại tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lệ H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Đức M tự nguyện cưới nhau vào năm 2005 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Mỹ Tho. Sau khi cưới, chị và M sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống không khắc phục được. Anh M không lo làm việc, thường xuyên uống rươu. Mỗi lần uống rượu là anh M đánh chị, đuổi chị và các con chung ra khỏi nhà. Chị đã khuyên can nhiều lần nhưng anh M vẫn không thay đổi. Chị và anh M đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2017 cho đến nay. Nay chị yêu cầu xin ly hôn với anh M.
Về con chung: Chị và anh M có hai con chung tên Nguyễn Phi H sinh ngày 20/5/2006 và Nguyễn Phi L sinh ngày 08/10/2012. Hiện nay, hai con chung đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cả hai con chung. Chị không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
* Bị đơn anh Nguyễn Đức M đã được Tòa tống đạt hợp lệ nhưng anh M vẫn vắng mặt không lý do và không gởi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về nội dung giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát cho rằng, chị H không còn tình cảm với anh M, hiện cả hai không còn chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H. Về con chung: Chị H yêu cầu được nuôi cả hai con chung và cả hai cháu có nguyện vọng muốn được sống với chị H. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị H về con chung. Về tài sản chung và nợ chung không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ỊNH C T
N:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Chị H và anh M tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Mỹ Tho theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 11 ngày 009/5/2005 là hôn nhân hợp pháp. Nay tranh chấp được xem xét giải quyết theo Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Đối với bị đơn anh Nguyễn Đức M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh M.
[3] Đối với yêu cầu khởi kiện của chị H, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị H xin ly hôn với anh M vì cho rằng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh M không chăm lo cho gia đình, không phụ chị nuôi con, thường xuyên uống rượu, mỗi lần uống rượu say về là đánh chị và đuổi chị và các con đi khỏi nhà. Chị đã khuyên can nhiều lần nhưng anh M vẫn không thay đổi. Nay xét thấy vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên chị cương quyết xin ly hôn với anh M. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh M nhiều lần nhưng anh M vẫn vắng mặt không có lý do và không gởi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh M là có thật nhưng anh chị không khắc phục được để kéo dài làm ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ chồng dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng nên không còn khả năng đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Chị H trình bày, chị và anh M có hai con chung tên Nguyễn Phi H sinh ngày 20/5/2006 và Nguyễn Phi L sinh ngày 08/10/2012. Hiện nay, hai con chung của chị và anh M đang sống với chị. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy yêu cầu của chị H là có cơ sở bởi vì phù hợp với nguyện vọng của cháu Phi H và cháu Phi L mong muốn được sống với chị H và nhằm giúp cho cháu Phi H và cháu Phi L ổn định tâm lý và cuộc sống. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H về việc giao cháu Phi H và cháu Phi L cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Ghi nhận việc chị H không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016, chị H phải chịu án phí án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ỊNH:
Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
Căn cứ khoản Điều 28, Điều 35, Điều 147 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Lệ H.
Chị Nguyễn Thị Lệ H được ly hôn với anh Nguyễn Đức M.
Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Phi H sinh ngày 20/5/2006 và Nguyễn Phi L sinh ngày 08/10/2012 cho chị Nguyễn Thị Lệ H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Đức M không cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Lệ H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã tạm nộp theo biên lai số 0014153 ngày 22/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho nên chị H đã nộp xong án phí.
Đương sự có mặt tại phiên tòa quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
TM. H
ỒN ÉT Ử SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa * Nơi nhận:
- TAND tỉnh TG ;
- VKSND Tp Mỹ Tho;
- Chi cục THADS Tp. Mỹ Tho;
- UBND xã Thới Sơn;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
M THỊ MỸ TR N
TM. H ỒN ÉT Ử SƠ THẨM
THẨM PH N CH TỌ PH ÊN TOÀ
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh; - VKSND huyện Chợ Gạo; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - THADS huyện Chợ Gạo; - Các đương sự. | Võ Thị Kim Loan |