vanban.org

Bản án 153/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Luật thi hành án dân sự. Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị Thu T ly hôn anh Trần Hồng H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị Lê Thị Thu T và anh Trần Hồng H"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG TÂY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 17-5-2019
V/v tranh chấp: “Ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY – TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trương Nguơn.

2. Ông Nguyễn Văn Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Quân – Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 329/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2018, về việc tranh chấp: “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 24/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2019/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Lê Thị Thu T, sinh năm 1981 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Trần Hồng H, sinh năm 1978 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố 1, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị Thu T trình bày:

Vào năm 2002, chị T với anh Trần Hồng H sống chung và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Đến năm 2017, chị T với anh H phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và ly thân từ tháng 06/2017 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị T yêu cầu ly hôn anh H.

Về con chung: Chị T với anh H có 02 con chung tên là Trần Lê Minh Huy, sinh ngày 21/3/2008 và Trần Lê Minh Anh, sinh ngày 01/9/2012. Cháu Huy và cháu Anh đang sống chung với chị T. Chị T yêu cầu trực tiếp nuôi cháu Huy và cháu Anh. Chị T yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi cháu Huy và cháu Anh mỗi cháu mỗi tháng bằng ½ mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định theo từng thới điểm; thời gian cấp dưỡng tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Huy và cháu Anh tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra chị T không yêu cầu gì khác.

* Tại phiên tòa và trong các lần mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bị đơn anh Trần Hồng H vắng mặt không rõ lý do, cũng không có văn bản ghi ý kiến.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng các thủ tục tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án, đề nghị:

+ Về hôn nhân: Cho chị T ly hôn anh H.

+ Về con chung: Giao cháu Anh và cháu Huy cho chị T tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng.

+ Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Anh và cháu Huy theo quy định của pháp luật.

+ Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết,nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Theo các tình tiết của vụ án và yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ giữa các bên là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cần được xem xét và giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét thấy anh Trần Hồng H đã được tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập dự phiện họp, hòa giải và xét xử hợp lệ, đúng quy định của pháp luật, nhưng anh H vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh H là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Tại phiên tòa, chị T yêu cầu ly hôn với anh H. Hội đồng xét xử xét thấy: Vào năm 2001, chị T sống chung với anh H và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Do mâu thuẫn gia đình và bất đồng quan điểm sống, chị T đã ly thân anh H từ tháng 6/2017 cho đến nay. Xét thấy tình cảm giữa chị T với anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Nay chị T yêu cầu ly hôn với anh H là phù hợp với điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong các lần mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa, anh H vắng mặt không rõ lý do, không có văn bản ghi ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử cho chị T ly hôn anh H.

Về con chung: Chị T với anh H có 02 con chung tên là Trần Lê Minh Huy, sinh ngày 21/3/2008 và Trần Lê Minh Anh, sinh ngày 01/9/2012 . Cháu Huy và cháu Anh đang sống chung với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huy và cháu Anh. Xét thấy, cháu Anh và cháu Huy từ lúc sinh ra cho đến nay sống chung với chị T; chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng. Để ổn định về mặt đời sống, tinh thần của các cháu, chị T có điều kiện kinh tế thuận lợi để tiếp tục nuôi con; đồng thời cháu Huy có nguyện vọng sống chung với chị T sau khi chị T ly hôn anh H; nên giao cháu Anh và cháu Huy cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh H được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa, chị T yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi cháu Anh và cháu Huy mỗi cháu mỗi tháng bằng ½ mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định theo từng thời điểm. Xét người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; việc mức tiền cấp dưỡng nuôi con là do chị T và anh H tự thỏa thuận, nếu các bên không thỏa thuận được thì do Tòa án quyết định, nhưng không được thấp hơn ½ mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định hiện nay là 1.390.000đồng/tháng; như vậy ½ mức lương tối thiểu là 695.000 đồng. Nên yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị T như trên là có cơ sở chấp nhận; do đó buộc anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Anh và cháu Huy mỗi cháu mỗi tháng bằng ½ mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định theo từng thời điểm; thời điểm hiện hiện nay ½ mức lương tối thiển là 695.000 đồng/tháng; thời gian cấp dưỡng tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Anh và cháu Huy tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Chị T và anh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Xét ý kiến, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: - Các Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điều 147, 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Luật thi hành án dân sự.

Xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị Thu T ly hôn anh Trần Hồng H.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Lê Minh Huy, sinh ngày 21/3/2008 và cháu Trần Lê Minh Anh, sinh ngày 01/9/2012 cho chị T tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh H được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trần Lê Minh Anh và cháu Trần Lê Minh Huy mỗi cháu mỗi tháng bằng ½ mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định theo từng thời điểm, thời điểm hiện nay ½ mức lương tối thiểu là 695.000 đồng/tháng; thời gian cấp dưỡng nuôi cháu Anh và cháu Huy tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Anh và cháu Huy tròn 18 tuổi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ chậm thực hiện thì phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

4. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

5. Về án phí:

+ Chị T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị T đã nộp theo biên lai số 39831ngày 13/11/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, nên chị T đã nộp xong án phí.

+ Anh H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Chi T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ