vanban.org

Bản án 153/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Minh T đƣợc ly hôn với bà Phạm Thị Thu C. Về con chung: Buộc ông Nguyễn Minh T giao con chung tên Nguyễn Ngọc Anh T, sinh năm 19/4/2003 cho bà Phạm Thị Thu C trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Ông Nguyễn Minh T phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung Nguyễn Ngọc Anh T … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T-C"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 153/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 19/11/2018
Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân;

2. Bà Bùi Thị Thúy Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Ngân- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2018, tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 825/2018/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 176/2018/QĐXX-ST ngày 02/11/2018, giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1962; thƣờng trú: Số 10A/8 khu phố T 1, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị Thu C, sinh năm 1968; thƣờng trú: Số 10A/8 khu phố T 1, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/7/2018, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 10/8/2018, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Minh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà Phạm Thị Thu C sau thời quen nhau thì tự nguyện về chung sống với nhau, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện T, tỉnh Sông Bé (nay là phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng) vào năm 1990 theo giấy chứng nhận kết hôn số 85/1990, quyển số 01 ngày 28/9/1990.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung cùng cha mẹ ông T tại số nhà 10A/8 khu phố T 1, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Theo ông T khi cha mẹ ông T còn sống thì bà C có những lời lẽ thiếu tôn trọng cha mẹ chồng. Bà C còn cho rằng ông T có quan hệ với ngƣời phụ nữ khác, mặc dù ông T đã nhiều lần giải thích nhƣng bà C không tin nên buộc lòng ông phải thừa nhận cho yên ấm gia đình. Ông T đã nhiều lần làm đơn xin ly hôn với bà C và đã cho bà C nhiều cơ hội để vợ chồng hàn gắn tình cảm và nuôi dạy con chung nhƣng bà C vẫn không thay đổi. Kể từ năm 2015 đến nay vợ chồng tuy vẫn sống chung nhà nhƣng đã ly thân về mặt tình cảm, việc ai ngƣời đó làm, không còn ăn chung, ngủ chung và sinh hoạt chung nữa. Ông Nguyễn Minh T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với bà Phạm Thị Thu C.

Về con chung: Quá trình chung sống, ông T và bà C có 02 con chung tên Nguyễn Anh K, sinh ngày 10/11/1992 và Nguyễn Ngọc Anh T, sinh năm 19/4/2003, hiện các con đang sống chung với ông T và bà C. Sau khi ly hôn, ông Nguyễn Minh T yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung đối với con chung tên Nguyễn Ngọc Anh T, sinh năm 19/4/2003. Nếu Tòa án giao con chung là cháu T cho bà C nuôi dƣỡng thì ông T đồng ý cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Đối với con chung Nguyễn Anh K, sinh ngày 10/11/1992 đã trƣởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung (nợ chung): Hiện nay vợ chồng đã thỏa thuận giải quyết xong nên ông Nguyễn Minh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Phạm Thị Thu C trình bày: Thống nhất lời trình bày của nguyên đơn ông Phạm Minh T về điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn, thời gian chung sống và con chung. Về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng, bà C không thống nhất. Bà C xác định vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ khoảng giữa năm 2015. Nguyên nhân là do ông T sống không chung thủy, có quan hệ với ngƣời phụ nữ khác ngoài hôn nhân. Bà C luôn giữ trọn đạo hiếu của ngƣời con dâu, làm tròn trách nhiệm của ngƣời vợ, ngƣời mẹ trong gia đình. Khi biết ông T có quan hệ với ngƣời phụ nữ khác thì bà và các con đã khuyên ông T nhiều lần nhƣng ông T không những không thay đổi mà còn liên tục yêu cầu ly hôn với bà C. Thực tế, kể từ năm 2015 đến nay vợ chồng tuy sống chung nhà nhƣng đã ly thân về mặt tình cảm, mặc dù bà C muốn chăm sóc cho ông T nhƣng ông T không đón nhận. Tuy nhiên, do vợ chồng đã có thời dài chung sống hạnh phúc, hiện các con đang tuổi trƣởng thành, cần sự chăm sóc, dạy dỗ của cha mẹ nên bà không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn, bà C yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung đối với con chung tên Nguyễn Ngọc Anh T, sinh năm 19/4/2003. Nếu Tòa án giao con chung là cháu T cho bà C nuôi dƣỡng thì bà đồng ý nuôi con và không có ý kiến gì về cấp dƣỡng, tùy ý chí của ông T về việc cấp dƣỡng. Đối với con chung Nguyễn Anh K, sinh ngày 10/11/1992 đã trƣởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung) : Hiện nay vợ chồng đã thỏa thuận giải quyết xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành và tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Minh T và bà phạm Thị Thu C là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Sông Bé (nay là Ủy ban nhân dân phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng) theo giấy chứng nhận kết hôn số 85/1990, quyển số 01, ngày 28/9/1990, là quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

Ông T và bà C xác định cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến khoảng giữa năm 2015 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn ông T và bà C khai không thống nhất, ông T thì cho rằng bà C không làm tròn bổn phận ngƣời vợ, còn bà C thì cho rằng ông T có quan hệ bất chính với ngƣời phụ nữ khác. Xét thấy, mặc dù giữa ông T và bà C không thống nhất với nhau về nguyên nhân mâu thuẫn nhƣng cả hai ông T và bà C đều thống nhất thừa nhận cuộc sống vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trong thời gian dài, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, từ năm 2015 đến nay vợ chồng tuy còn sống chung nhƣng đã ly thân về mặt tình cảm, không còn ăn chung, ngủ chung, và không còn sinh hoạt chung.

Xét mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt đƣợc mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Tuy nhiên, ông T xác định không còn tình cảm với bà C, vợ chồng không còn tin tƣởng nhau vì vậy bản thân ông T cũng đã nhiều lần xin ly hôn với bà C. Đối với bà C xác định vẫn còn tình cảm với ông T, thừa nhận ông T đã nhiều lần xin ly hôn nhƣng bà C không đồng ý ly hôn vì cho rằng vẫn còn yêu thƣơng chồng con nhƣng kể từ khi Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dƣơng xét xử không chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của ông T đến nay (bản án số 20/2017/HNGĐ-PT, ngày 28/9/2017), bà C không ai có hành động nào tích cực để hàn gắn tình cảm vợ chồng, đồng thời ông T và bà C cũng thừa nhận tài sản chung của vợ chồng hai bên đã thỏa thuận chia xong, điều này chứng tỏ mâu thuẫn về tình cảm giữa ông T, bà C đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và cả hai đã không còn muốn tạo cơ hội cho nhau sống chung nhà để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, ông T yêu cầu đƣợc ly hôn với bà C là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Sau khi ly hôn, ông T và bà C không ai có ý kiến yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung mà yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tòa án đã lấy ý kiến của cháu Nguyễn Ngọc Anh T, sinh năm 19/4/2003 về việc sống chung với cha hoặc mẹ sau khi cha mẹ ly hôn nhƣng cháu T không có ý kiến lựa chọn. Xét thấy, cháu Nguyễn Ngọc Anh T là con gái, đang tuổi trƣởng thành cần sự quan tâm chăm sóc của ngƣời mẹ, thực tế từ trƣớc đến nay do bà Phạm Thị Thu C trực tiếp nuôi dƣỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt nên có cơ sở giao cháu T cho bà C trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông T thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Đối với con chung Nguyễn Anh K, sinh ngày 10/11/1992 đã trƣởng thành đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, quyền và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Các đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ những nhận định trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh T và đề nghị của đại diện Viện Kiểm Sát về việc giải quyết vụ án.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 4 Điều 147, Điều 228, 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều: 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Minh T đƣợc ly hôn với bà Phạm Thị Thu C.

2. Về con chung: Buộc ông Nguyễn Minh T giao con chung tên Nguyễn Ngọc Anh T, sinh năm 19/4/2003 cho bà Phạm Thị Thu C trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Ông Nguyễn Minh T phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung Nguyễn Ngọc Anh T mỗi tháng 3.000.000 (ba triệu) đồng. Thời hạn cấp dƣỡng kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

Sau ly hôn, bà Phạm Thị Thu C và ông Nguyễn Minh T đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Trƣờng hợp ông Nguyễn Minh T lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc bà Phạm Thị Thu C nuôi con thì bà Phạm Thị Thu C có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về tài sản chung, quyền và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Minh T phải chịu 300.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí ly hôn và 300.000 đồng án phí cấp dƣỡng nuôi con đƣợc khấu trừ 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0019881 ngày 02/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Hoàn trả cho ông Nguyễn Minh T số tiền 950.000 đồng tiền chênh lệch.

5. Án xử công khai, tuyên án có mặt ông Nguyễn Minh T và bà Phạm Thị Thu C.

6. Nguyên đơn và bị đơn đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ